Fwackyuk 19
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tukun ma inge, nga lohng pusra se oana pusren u na lulap se ke mwet inkusrao, ac elos fahk, “Kaksakin God! Molela, wolana, ac ku ma lun God lasr!
1Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta.
2Nununku lal uh pwaye ac suwohs! El sulela tari mwe kalya nu sin mutan kosro se su akkolukyela faclu ke moul in kosro lal uh. God El kalyael mweyen el uniya mwet kulansap lal.”
2Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra.
3Elos sifilpa wowoyak ac fahk, “Kaksakin God! Kulasr ke e ma furreak siti lulap se ingo fosryak ma pahtpat ac ma pahtpat!”
3Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời.
4Ac mwet elder longoul akosr ac ma moul akosr elos epasr ac alu nu sin God su muta fin tron. Elos fahk, “Amen! Kaksakin God!”
4Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia!
5Ac sie pusra tuku liki tron ac fahk, “Kowos in kaksakin God lasr, kowos mwet kulansap lal nukewa ac mwet nukewa su sunakunul — mwet fulat ac mwet pusisel!”
5Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài!
6Na nga lohng sie pusra oana pusren sie u lulap, oana kusen kof putat ac oana kusen pulahl upa. Nga lohng ke elos fahk, “Kaksakin God! Leum, God Kulana lasr, El pa Tokosra!
6Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị.
7Lela kut in arulana engan ac insewowo; lela kut in kaksakin fulatlana lal! Tuh pacl in marut lun Lamb pa inge, ac mutan kial el akola.
7Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn,
8Itukyang nu sin mutan sac nuknuk linen nasnas ac saromrom elan nokomang.” (Nuknuk linen inge pa orekma wo lun mwet lun God.)
8đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ).
9Na lipufan se fahk nu sik, “Simusla ma inge: Insewowo nu selos su suliyuk nu ke kufwen marut lun Lamb.” Ac lipufan sac sifilpa fahk, “Kas inge kas pwaye lun God.”
9Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.
10Ac nga putati nu ke nial in alu nu sel, a el fahk nu sik, “Nimet oru ouingan! Nga sie mwet kulansap wiom ac ma wien mwet lulalfongi nukewa su sruokya ku kas pwaye su Jesus El fahkak. Kom in alu nu sin God!” Tuh ma pwaye ma Jesus El fahkak kac pa akkeye mwet su fahkak kas lun God.
10Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri.
11Na nga liye kusrao ikakla, ac oasr soko horse fasrfasr we. El su muta fac pangpang Oaru ac Pwaye; el oru nununku lal ac mweuni meun lal ke suwoswos.
11Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu.
12Atronmutal firirrir oana e, ac oasr tefuro puspis fin sifal. Oasr sie ee simla kacl, su wangin mwet etu kac a el mukena.
12Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được.
13El nokomang sie nuknuk loeloes twenyuki ke srah, ac ineel pa “Kas lun God.”
13Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời.
14Ac un mwet mweun inkusrao elos kasrusr tokol fin horse fasrfasr pac, ac nuknukyang ke nuknuk linen nasnas ac fasrfasr.
14Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài.
15Sie cutlass kosroh tume liki oalul, ma el ac sang kutangla mutunfaclu. El ac fah leum faclos ke soko sikal osra. Ac el ac fac lolongya grape ke nien fut wain in kasrkusrak lun God Kulana.
15Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng.
16Simla ke nuknuk lal ac finyepal ee se inge: “Tokosra lun tokosra uh, ac Leum lun leum uh.”
16Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa.
17Ac nga liye sie lipufan tu fin faht uh. El wowoyak ke sie pusra lulap nu sin won nukewa sohksok yen engyeng uh ac fahk, “Fahsru wi tukeni ke kufwa lulap lun God!
17Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời,
18Fahsru ac kang ikwen tokosra, ikwen captain, ikwen mwet mweun, ac ikwen horse ac elos su muta fac, ac ikwen mwet nukewa — mwet kohs ac mwet sukosok, mwet fulat ac mwet pusisel!”
18hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn.
19Na nga liye kosro sulallal soko ah ac tokosra lun faclu ac un mwet mweun lalos ke elos toeni in mweun lain el su muta fin horse soko ac un mwet mweun lal.
19Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài.
20Sruoh kosro sulallal soko ah, wi mwet palu kikiap se su tuh oru mwenmen ye mutal. (Ke mwenmen inge el kiapwelosla su tuh eis akul lun kosro soko ah, oayapa elos su alu nu ke ma sruloala lun kosro soko ah.) Kosro soko ah ac mwet palu kikiap sac moul na sisiyang nu ke lulu in e su firirrir ke sulfur.
20Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng.
21Un mwet mweun lalos uh anwuki ke cutlass se ma tume liki oalin el su muta fin horse soko ah. Ac won nukewa elos kang ikwalos nwe ke na elos kihpi.
21Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.