Lokphong 13
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kai loe tuipui ih savuet nuiah kang doet. To naah takii hato hoi lu sarihto kaom, takii boih nuiah angraeng lumuek hato hoi a lu boih nuiah Sithaw ahmin kasae thuihaih kaom, tuipui thung hoiah tacawt tahang moi kasan maeto ka hnuk.
1Đoạn, tôi thấy ở dưới biển lên một con thú có mười sừng bảy đầu, trên những sừng có mười cái mão triều thiên, và trên những đầu có danh hiệu sự phạm thượng.
2Ka hnuk ih moi kasan loe kaithlaeng hoiah anghmong, a khok loe taqom khok baktiah oh, anih ih pakha loe kaipui pakha baktiah oh: pahui pui mah anih hanah a thacakhaih, angmah ih angraeng tangkhang hoi kalen parai ukthaihaih akaa to paek.
2Con thú tôi thấy đó giống như con beo; chân nó như chân gấu, miệng như miệng sư tử, và con rồng đã lấy sức mạnh, ngôi, và quyền phép lớn mà cho nó.
3Anih ih lu maeto loe duek han khoek to ahmaa caak boeh, to tiah duek han khoek to kaom ahmaa to hoih pae let: long kaminawk boih dawnrai o moe, moisan hnuk ah bang o.
3Một cái trong các cái đầu nó như bị thương đến chết; nhưng vít thương chết ấy được lành, và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó.
4Moisan hanah ukthaihaih akaa paek pahui pui to kaminawk mah bok o: mi maw moisan baktiah kaom? Mi mah maw anih to tuh thai tih? tiah thuih o moe, moisan to a bok o.
4Người ta khởi thờ phượng con rồng, bởi nó đã lấy quyền phép cho con thú; và họ cũng thờ phượng chính con thú, mà rằng: Ai sánh được với con thú, ai giao chiến cùng nó được?
5Khrah qui pali, hnetto thung kamoek lok apaehhaih, Sithaw ih ahmin kasae thuihaih hoi ukthaihaih akaa to anih hanah paek.
5Nó được ban cho cái miệng nói những lời kiêu ngạo phạm thượng; và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng.
6Sithaw tangoenghaih, Sithaw ih ahmin kasae thuihaih, Sithaw ohhaih kahni im, van ah kaom kaminawk to kasae thuih hanah, anih ih pakha to paongh pae.
6Vậy, nó mở miệng ra nói những lời phạm đến Đức Chúa Trời, phạm đến danh Ngài, đền tạm Ngài cùng những kẻ ở trên trời.
7Kaciim kaminawk hoi misa angtuk moe, pazawk thaihaih to anih hanah paek o: kaminawk, lok congca apae kaminawk, prae kaminawk boih pazawk thaihaih to a tawnh.
7Nó lại được phép giao chiến cùng các thánh đồ và được thắng. Nó cũng được quyền trị mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng và mọi nước.
8Long oh tangsuek nathuem hoi hum ih kahing Tuucaa ih cabu thungah ahmin tarik ai ih long kaminawk boih mah moisan to bok o tih.
8Hết thảy những dân sự trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế.
9Mi kawbaktih doeh naa tawn kami loe thaih nasoe.
9Ai có tai, hãy nghe!
10Misong ah naeh han suek ih kami loe naeh o tih: sumsen hoi hum han suek ih kami loe sumsen hoiah hum o tih. Haeah kaciim kaminawk loe palungsawkhaih hoi oep kaom ah khosak han angaih.
10Nếu ai bắt người làm phu tù, chính mình sẽ bị làm phu tù; nếu ai giết người bằng gươm, mình phải bị giết bằng gươm. Đây là sự nhịn nhục và đức tin của các thánh đồ.
11To pacoengah long hoiah tacawt tahang kalah moisan maeto ka hnuk; anih loe Tuucaa baktiah takii hnetto tawnh moe, pahui pui baktiah lok apaeh.
11Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác, có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng.
12Anih loe hmaloe ah kaom moisan ukthaihaih akaa patohhaih hoiah, long hoi a thungah kaom kaminawk boih mah, duek han khoek to ahmaa caak moe, kahoih let hmaloe ih moisan to bok o hanah toksak.
12Nó cũng dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước, là con có vít thương đến chết đã được lành.
13Anih loe kalen parai dawnrai koi kaom hmuennawk to sak, kaminawk mik hnukah van hoiah long nuiah hmai to a kraksak.
13Nó làm những phép lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta.
14Hmaloe ih moisan hmaa ah dawnrai hmuennawk sakhaih rang hoiah anih mah long nuiah kaom kaminawk to aling; sumsen hoiah ahmaa caak pacoengah, kahing let moisan ih krang to sak o hanah, long nuiah kaom kaminawk khaeah lok a thuih pae.
14Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại.
15Anih mah moisan ih krang to lok apaehsak moe, hinghaih takhi doeh paek thaih; to moisan krang bok han koeh ai kaminawk boih to a hum.
15Nó cùng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi.
16Anih mah kathoeng, kalen, angraeng, mithoe, kaloih, tamna boih angmacae bantang ban ah maw, to tih ai boeh loe lu pataeh ah maw catui daeng pae tih:
16Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán,
17catui daenghaih maw, to tih ai boeh loe moisan ih ahmin maw, to tih ai boeh loe anih ih ahmin nambat maw tawn ai kami loe, hmuenmae zaw thai mak ai, qan doeh qan thai mak ai.
17hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được.
18To pongah haeah palunghahaih angaih. Mi kawbaktih doeh panoekthaihaih tawn kami loe moisan ih nambat to pakoep nasoe: to nambat loe kami maeto ih nambat ah oh; anih ih nambat loe cumvai taruk, qui taruk, tarukto.
18Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.