Lokphong 15
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kalen parai, dawnrai koi kaom, kalah angmathaih van ah ka hnuk, nathaih sarihto kasin vankami sarihto oh, to nathaih sarihto boeng naah loe, Sithaw palungphuihaih to diip tih boeh.
1Tôi thấy một điềm khác ở trên trời, vừa lớn vừa lạ: bảy thiên sứ cầm bảy tai nạn sau cùng, vì bởi các tai nạn nầy làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
2To pacoengah hmai hoi kangbaeh hmaidan tuili baktih kaom hmuen to ka hnuk, kaminawk loe to hmuen nuiah angdoet o. Nihcae loe moisan hoi anih ih krang, anih ih catui daenghaih, anih ih nambat ahmin pazawk kami ah oh o.
2Tôi thấy như biển bằng pha ly lộn với lửa, những kẻ đã thắng con thú và hình tượng nó cùng số của tên nó, đứng bên biển pha ly đó mà nâng đàn cầm của Đức Chúa Trời.
3Nihcae mah, Thacak Angraeng Sithaw, na sak ih toknawk loe lensawk moe, dawnrai han oh; nang ih loklam loe toeng moe, loktang ah oh, nang loe kaciim kaminawk ih Siangpahrang ah na oh,
3Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật!
4aw Angraeng, nang zithaih tawn ai kami mi maw om tih, na hmin pakoeh ai kami mi maw om tih? Ciimcai loe nang khue ni: prae kaminawk boih angzo o ueloe, na hmaa ah bok o tih; katoeng na lokcaekhaih loe amtueng boeh, tiah Sithaw ih tamna Mosi hoi Tuucaa ih laa to sak o.
4Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra.
5To pacoengah ka khet, to naah khenah, van ah paongh ih lok taphonghaih kahni im tempul to ka hnuk.
5Rồi đó, tôi nhìn xem, thấy trên trời có nơi thánh của đền tạm chứng cớ mở ra.
6Nathaih sarihto kasin, sarihto vankaminawk loe ciimcai kahni kanglung to angkhuk o, sui kahni to saoek ah angzaeng o moe, tempul thung hoiah tacawt o.
6Bảy vị thiên sứ cầm bảy tai nạn từ đền thờ đi ra, mặc áo gai trong sạch rực rỡ, và ngang ngực thắt đai vàng.
7Sak ih kahing hmuen palito thung ih maeto mah, vankami sarihtonawk hanah sui boengloeng maeto paek boih; to boengloengnawk loe dungzan hoi dungzan ah kahing, Sithaw palungphuihaih hoiah koi o.
7Một con trong bốn con sanh vật ban cho bảy vị thiên sứ bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời, là Đấng hằng sống đời đời.
8To naah tempul loe Sithaw lensawkhaih hoi a sakthaihaih hmaikhue hoiah koi; vankami sarihtonawk mah sin o ih nathaih kasae sarihto krai boih ai karoek to, mi kawbaktih doeh tempul thungah akun thai ai.
8Đền thờ bèn đầy những khói, vì cớ sự vinh hiển và oai quyền của Đức Chúa Trời; chẳng ai được vào đền thờ cho đến chừng nào bảy tai nạn của bảy thiên sứ được làm trọn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.