Ezekiel 25
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2kami capa, Ammon kaminawk khaeah angqoi ah loe, nihcae koeh ai ih lok to thui ah;
2Hỡi con người, hãy xây mặt về con cái Am-môn, và nói tiên tri nghịch cùng chúng nó.
3nihcae khaeah, Angraeng Sithaw ih lok tahngai oh; Angraeng Sithaw mah, Nangcae mah, Kai ih hmuenciim amhnong o sak moe, Israel prae amro nathuem, Judah imthung takoh misong ah naeh o naah, “Ha, ha!” tiah na pahnuih o.
3Hãy nói cùng con cái Am-môn rằng: Hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì ngươi có nói rằng: Hay! hay! về nơi thánh ta, khi nó bị ô uế, về đất Y-sơ-ra-ên, khi nó bị làm nên hoang vu, cùng về nhà Giu-đa, khi nó bị bắt làm phu tù,
4To pongah khenah, Nangcae hae ni angzae bang ih kaminawk khaeah kang paek han, nihcae loe nangcae salakah ohhaih im to sah o ueloe, nangcae salakah atai o tih; nangcae ih thingthai qumpo to na caa pae o ueloe, nangcae ih tahnu tui to nae o tih.
4bởi cớ đó, nầy, ta sẽ phó ngươi cho các con cái phương đông làm cơ nghiệp. Chúng nó sẽ đóng trại giữa ngươi, và cất nhà mình ở đó; chúng nó sẽ ăn trái ngươi và uống sữa ngươi.
5Rabbah to tahnongsawk hrang prathaih ahmuen ah ka sak moe, Ammon to tuunawk prathaih ahmuen ah ka sak han; to naah Kai loe Angraeng ni, tito na panoek o tih, tiah ang naa.
5Ta sẽ khiến Ra-ba làm chuồng lạc đà, và con cái Am-môn làm chỗ bầy vật nằm, thì các ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
6Angraeng Sithaw mah, Israel prae to na ut moe, ban na tabaeng thuih, khok hoiah na pathuih moe, palung nang hoe pongah,
6Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: bởi ngươi đã vỗ tay, đập chân, đầy lòng khinh dể và vui vẻ về đất Y-sơ-ra-ên,
7khenah, na nuiah ban ka phok moe, hum hanah Sithaw panoek ai kaminawk khaeah kang paek han; prae congca kaminawk salak hoiah kang hmatsak moe, kang dueksak han; to naah Kai loe Angraeng ni, tito na panoek o tih, tiah thuih.
7bởi cớ đó, nầy, ta đã giá tay ta trên ngươi. Ta sẽ phó ngươi làm mồi cho các nước; ta sẽ trừ ngươi ra khỏi các dân; ta sẽ diệt ngươi khỏi các nước; ta sẽ hủy hoại ngươi, và ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
8Khenah, Moab hoi Seir mah, Judah imthung takoh loe Sithaw panoek ai kaminawk hoiah ni anghmong tiah a thuih hoi;
8Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì Mô-áp và Sê-i-rơ có nói rằng: Nầy, nhà Giu-đa cũng như các nước khác,
9To pongah Moab ih vangpuinawk, prae thung ih kahoih koek vangpui Beth-Jesi-moth, Baal-meon hoi Kiriathaim angzithaih ramri khoek to misa ka tuksak han, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
9bởi cớ đó, nầy, ta sẽ phá các thành của bờ cõi người Mô-áp, tức là hết thảy các thành trong đất chúng nó làm vinh hiển cho xứ ấy, là thành Bết-Giê-si-mốt, thành Ba-anh-Mê-ôn, và thành Ki-ri-a-ta-im.
10To vangpuinawk to Ammon kaminawk hoi ni angzae bang ih kaminawk khaeah ka paek han, to naah Ammon kaminawk loe prae kaminawk salakah ahmin panoekhaih om mak ai boeh.
10Ta sẽ phó xứ nầy và xứ của người Am-môn cho các con trai phương đông. Ta sẽ ban những xứ nầy cho chúng nó làm sản nghiệp, hầu cho con cái Am-môn không được ghi nhớ giữa các nước nữa.
11To pacoengah Moab nuiah lok ka caek han, to naah nihcae mah Kai loe Angraeng ni, tito panoek o tih, tiah thuih.
11Ta cũng sẽ làm sự phán xét trên Mô-áp; và chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
12Angraeng Sithaw mah, Edom mah Judah imthung takoh to lu lak pongah, anih loe paroeai zaehaih sak boeh, tiah thuih: to tiah nihcae nuiah lu a lak;
12Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì dân Ê-đôm đã làm sự báo thù nghịch cùng nhà Giu-đa, và nhân báo thù nhà ấy mà phạm tội nặng, nên Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
13to pongah Angraeng Sithaw mah, Edom nuiah ban ka payangh moe, kami hoi pacah ih moinawk to ka hum pae han; Teman hoi Dedan khoek to kam rosak moe, sumsen hoiah ka dueksak han, tiah thuih.
13Ta sẽ giá tay nghịch cùng Ê-đôm, sẽ dứt người và vật ở đó; ta sẽ làm thành ấy nên hoang vu; từ Thê-man đến Đê-đan, chúng nó sẽ ngã bởi gươm.
14Kaimah ih kami Israelnawk ih ban hoiah Edom to lu ka lak han; palung ka phuihaih hoi hmai baktiah kamngaeh palungphuihaih baktih toengah, nihcae mah Edom nuiah sah o tih; to naah lu ka lakhaih to nihcae mah panoek o tih, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
14Ta sẽ làm sự báo thù ta trên Ê-đôm, bởi tay của dân Y-sơ-ra-ên ta; dân ấy sẽ đãi dân Ê-đôm theo như sự thạnh nộ và tức giận của ta. Bấy giờ chúng nó sẽ biết sự báo thù của ta là thế, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15Angraeng Sithaw mah, Philistin kaminawk loe canghni ih hnukmahaih pongah nihcae to hum moe, uthaih palung hoiah lu lak o, tiah thuih;
15Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì dân Phi-li-tin làm sự báo thù, làm sự báo thù theo lòng ghen ghét vô cùng mà muốn hủy diệt,
16to pongah Angraeng Sithaw mah, Khenah, Philistin kaminawk nuiah ban ka phok moe, Kherethim kaminawk to kang hmatsak pacoengah, tuipui taengah kaom kanghmat kaminawk to ka hum boih han.
16bởi đó, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ giá tay trên các người Phi-li-tin; sẽ dứt những người Cơ-rết; và ta sẽ làm cho chết hết những kẻ còn sót lại ở trên mé biển.
17Nihcae nuiah kalen parai lu lakhaih to ka sak moe, anih to palungphuihaih hoiah ka thuitaek han; nihcae nuiah lu ka lak naah loe, nihcae mah Kai loe Angraeng ni, tito panoek o tih, tiah thuih.
17Ta sẽ làm sự báo thù lớn nghịch cùng chúng nó, mà dùng cơn giận quở trách chúng nó; chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta sẽ làm sự báo thù nghịch cùng chúng nó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.