Ezekiel
Chapter 21
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
1(021-6) Đoạn có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2kami capa, Jerusalem bangah anghaeh loe hmuenciim khaeah misa haih lok to thui ah, Israel prae hoi misa angcoenghaih lok to tapong ah;
2(021-7) Hỡi con người, hãy xây mặt về phía Giê-ru-sa-lem; đối với các nơi thánh mà buông lời; đối với đất Y-sơ-ra-ên mà nói tiên tri.
3Israel prae khaeah Angraeng Sithaw mah, Khenah, misa ah kang suek han, tabu thung hoi sumsen to ka phongh moe, katoeng doeh, toeng ai doeh, nihcae to ka tamit boih han boeh.
3(021-8) Khá nói cùng đất Y-sơ-ra-ên rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng ngươi. Ta sẽ rút gươm ta ra khỏi vỏ nó, đặng dứt kẻ công bình và kẻ dữ khỏi giữa ngươi.
4Katoeng maw, katoeng ai maw, ka tamit boih han oh boeh pongah, aloih bang hoi aluek bang ih kaminawk boih misatuk hanah, ka sumsen loe angmah ih tabu thung hoi tacawt tih boeh:
4(021-9) Vì ta sẽ dứt kẻ công bình và kẻ dữ khỏi giữa ngươi, thì gươm ta sẽ ra khỏi vỏ nó nghịch cùng mọi xác thịt từ phương nam đến phương bắc,
5to naah Kai, Angraeng mah angmah ih tabu thung hoiah sumsen ka phong boeh, tito kami boih mah panoek o tih; to sumsen loe angmah ih tabu thungah pacaeng let mak ai boeh, tiah thuih, tiah thui paeh.
5(021-10) và mọi xác thịt sẽ biết ta, Đức Giê-hô-va, đã rút gươm ra khỏi vỏ nó, nó sẽ không trở vào nữa!
6To pongah kami capa, aham ah! Kaeng angkhaeh moe, palung tapok han khoek to nihcae hmaa ah aham ah.
6(021-11) Hỡi con người, còn như ngươi, hãy than thở, như gãy lưng; phải, hãy than thở trước mắt chúng nó cách cay đắng.
7Nihcae mah tipongah na ham loe? tiah na dueng o nahaeloe, Tamthang angzoh pongah ni ka ham; tamthang angzo naah loe, palungthin boih tui baktiah amzawt ueloe, bannawk boih thazai sut tih, pakhranawk boih thazok o ueloe, khokkhunawk boih tui baktiah naem o tih boeh, tiah thui paeh; khenah, angzo tih boeh, to hmuen loe om tangtang tih, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
7(021-12) Nếu chúng nó nói cùng ngươi rằng: Làm sao ngươi than thở? thì ngươi trả lời rằng: Aáy là bởi cớ tin tức, vì nó đến, làm cho mọi lòng đều tan chảy, mọi tay đều yếu đuối, mọi trí đều hao mòn, mọi đầu gối đều yếu như nước. Nầy, nó hầu đến, lời ấy sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy!
8Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
8(021-13) Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
9kami capa, Angraeng mah hae tiah thuih, tiah taphong han ih lok loe, Sumsen maeto, sumsen maeto loe tak het moe, hmawt het boeh:
9(021-14) Hỡi con người, hãy nói tiên tri, và rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nói rằng: cái gươm, cái gươm nhọn và sáng!
10sumsen loe kami hum hanah tak het boeh, ni aengh baktiah angpha hanah hmawt suidik boeh; aicae loe ka capa ih cunghet pongah anghoe han oh maw? Thing rumram hoi sak ih cunghet loe sumsen mah patoek.
10(021-15) Nó nhọn cho sự chém giết; nó sáng đặng văng ra như chớp. Chúng ta có nên vui mừng chăng? Cái gậy của con trai ta, nó khinh dể mọi cây khác.
11Sumsen loe hmawt suidik moe, patoh han ih ni a paek; kami hum thaih khaeah paek hanah, to sumsen loe tak het boeh moe, hmawt suidik boeh.
11(021-16) Người ta đã cho cái gươm nầy được sáng, đặng cầm nơi tay; ấy là cái gươm nhọn và sáng để cho vào tay kẻ giết.
12Kami capa, qah ah loe hang ah, to hmuen loe kai ih kaminawk nuiah pha ueloe, Israel angraengnawk nuiah om tih; to baktih zitthok hmuennawk hoi sumsen loe kai ih kaminawk nuiah krah tih, to pongah na phaih to atum ah.
12(021-17) Hỡi con người, khá kêu la và than van; vì gươm ở trên dân ta, ở trên mọi quan trưởng Y-sơ-ra-ên, là những kẻ đã bị nộp cho gươm với dân ta. Vậy nên, hãy vỗ vế!
13To hmuen loe kaimah ih kaminawk tanoekhaih ah oh, sumsen mah cunghet to patoek nahaeloe kawbangmaw pakaa thai tih? Cunghet loe om mak ai boeh, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
13(021-18) Phải, có sự thử thách; cây gậy khinh dể sẽ thành ra hư không, thì làm thế nào? Chúa Giê-hô-va phán vậy.
14To pongah kami capa, lok to taphong ah loe, ban tabaeng ah, vai hnetto, vai thumto sumsen alaekhaih to om tih, to sumsen loe kami humhaih sumsen, kami pop parai humhaih sumsen kalen ah oh moe, nihcae ahnuk ahma humhaih sumsen ah oh.
14(021-19) Hỡi con người, vậy ngươi khá nói tiên tri đi; khá đập tay, hãy đánh gươm gấp lên đôi ba lần; ấy là gươm của người bị thương đến chết: ấy là gươm của người lớn bị thương đến chết, vào trong buồng kín.
15Nihcae palung boeng o moe, kadueh kami pop aep hanah, nihcae ih khongkhanawk boih ah sumsen to ka suek boeh; Aw! Sumsen loe ni aengh baktiah ampha moe, kami hum hanah hmawt suidik boeh.
15(021-20) Aáy là để làm cho lòng chúng nó tan chảy, cho thêm nhiều sự vấp ngã, mà ta đã đặt gươm hăm dọa nghịch cùng mọi cửa chúng nó. Oâi! gươm đã như chớp nhoáng; đã bén nhọn để giết!
16Aw sumsen caeh ah loe, banqoi bantang alaek ah, sumsen haa angqoihaih ahnuk ahma bang boih ah takroek ah.
16(021-21) Ngươi hãy nhóm lại về bên hữu, và dàn trận về bên tả, tùy nơi mặt ngươi hướng về.
17Kai doeh ban tabaeng moe, palungphuihaih ka dipsak han boeh, tiah Kai, Angraeng mah thuih boeh.
17(021-22) Ta cũng đập hai tay, và khiến cơn giận ta yên lặng. Aáy chính ta, Đức Giê-hô-va, phán điều đó.
18Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
18(021-23) Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
19kami capa, Babylon siangpahrang sumsen hoi angzohhaih loklam hnetto angmathaih to sah ah; to loklam loe kanghmong prae maeto thung hoiah tacawt tih; toe vangpui bang caehhaih lamphi ah, angmathaih to sah ah.
19(021-24) Hỡi con người, ngươi cũng hãy chỉ định cho mình hai con đường đặng dùng làm lối đi qua cho cái gươm của vua nước Ba-by-lôn. Hai con đường ấy khá đi ra cả hai từ một đất; lại vạch một dấu, vạch ở đầu đường đi đến thành kia.
20Loklam hnetto ampraekhaih ahmuen ah angmathaih kamnoek ah sah ah: loklam maeto loe Ammon prae vangpui, Rabah ah caehhaih loklam ah oh moe, kalah loklam maeto bae loe Judah prae, misa buephaih kacakah sak ih Jerusalem caehhaih loklam ah oh.
20(021-25) Ngươi khá chỉ định đường lối cho gươm đi qua, một đường thì hướng về Ráp-ba, thành của con cái Am-môn, và một đường hướng về Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, là thành bền vững.
21Babylon siangpahrang loe loklam hnetto ampraekhaih lamphi phak naah, to ah angdoet; palaa hoiah taham kasae kahoih to a khet moe, krangnawk khaeah lok a dueng, angbawnhaih moi pathin to a khet.
21(021-26) Vì vua Ba-by-lôn đứng lại nơi cháng ba, là nơi vào hai con đường ấy, đặng bói khoa. Vua ấy lắc những cái tên; hỏi các thần tượng, và xem xét gan.
22Misa buephaih im to a sak, misa buephaih to sak moe, misa qumqaihaih long khaw to takaeh hanah, a bantang ban hoiah Jerusalem hanah taham khethaih phoisa to a vah.
22(021-27) Trong tay hữu người có điềm chỉ về thành Giê-ru-sa-lem, đặng dùng máy để phá thành, đặng mở miệng giết lát, đặng cất tiếng kêu la, đặng dùng những máy phá thành nghịch cùng cửa thành, đặng đắp lũy và lập đồn tại đó.
23Toe anih khaeah lokkamhaih sah kaminawk loe taham khethaih to tidoeh avang ai hmuen ah poek o tih; toe siangpahrang mah loe to kaminawk to naeh thai hanah nihcae sakpazaehaih to pakrong tih.
23(021-28) Những kẻ đã thề lời thề, đều thấy trong những lời đó chỉ là một điềm dối, nhưng vua thì sẽ nhắc lại cho chúng nó nhớ sự gian ác mình, mà bắt đi làm phu tù.
24To pongah Angraeng Sithaw mah hae tiah thuih: na sakpazae o ih hmuennawk to panoek hanah na sak o, to pongah na sakpazae o ih hmuennawk to na panoek o boeh; to tiah na sak o ih hmuennawk hoi na zae o ih hmuennawk loe amtueng boih boeh pongah, siangpahrang ban ah nam timh o tih, tiah ka thuih, tiah thuih pae han ang naa.
24(021-29) Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi đã nhắc cho nhớ lại sự gian ác mình, làm cho sự phạm tội bày ra, tỏ ra tội lỗi mình trong mọi việc làm; vì các ngươi nhắc lại cho nhớ, thì các ngươi sẽ bị tay bắt.
25Aw nang, panuet thok Israel siangpahrang, nang ih ani loe phak boeh, zaehaih pongah boenghaih to phak boeh.
25(021-30) Về phần ngươi, vua chúa Y-sơ-ra-ên, người gian ác bị thương đến chết kia, ngày của ngươi đã đến, trong k” gian ác về cuối cùng.
26Lumuek to khring ah loe, sui lumuek to angkhring ah; hae hmuen loe amkhrai boih boeh, atlim ah kaom kami to tapom tahang ueloe, tapom tahang ih kami to atlim ah pakhrak tathukhaih om tih, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
26(021-31) Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy cất mũ nầy, lột mão triều thiên nầy; sự nầy chẳng giống như trước nữa! Cái gì thấp hãy lại cất lên, cái gì cao hãy hạ xuống.
27Tawnkung angzo ai karoek to kam rosak han, kam rosak han! Tawnkung angzoh naah, Anih khaeah ka paek han, tiah a thuih.
27(021-32) Ta sẽ úp đổ, úp đổ, úp đổ nó; sự nầy cũng sẽ không còn nữa, cho đến chừng nào Đấng đáng được sẽ đến, thì ta sẽ giao cho.
28Nang, kami capa, Ammon kaminawk hoi nihcae sethaih kawng pongah Angraeng Sithaw mah, Sumsen, sumsen to aphong boeh; Kami takroek hanah hmawt het boeh moe, kami hum hanah ni aengh baktiah kampha ah hmawt suidik boeh:
28(021-33) Hỡi con người, hãy nói tiên tri mà rằng: Về con cái Am-môn và sự khinh lờn của chúng nó, thì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nói: Thanh gươm, thanh gươm đã tuốt ra cho sự giết lát; đã mài sáng đặng nuốt đi, đặng nên như chớp!
29nangcae Ammon kaminawk loe tidoeh avang ai hmuen to na khet o moe, nangcae khaeah thuih ih lok amlaihaih to na tang o. To pongah hum han kaom kasae kami ih tahnong ah sumsen to koeng tih boeh, anih humhaih atue loe phak boeh, a zae o haih pongah nihcae boenghaih atue to phak boeh.
29(021-34) Đang khi chúng nó vì ngươi thấy sự hiện thấy giả dối, bói khoa sự dối cho ngươi, hầu cho đặt ngươi trên cổ kẻ gian ác bị thương hầu chết, ngày chúng nó đã đến trong kỳ gian ác về cuối cùng.
30Sumsen to tabu thungah ka pacaeng let han maw? Nang kang sakhaih ahmuen, na tapenhaih ahmuen ah, lok kang caek han, tiah thuih, tiah thui paeh, tiah ang naa.
30(021-35) Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ! Aáy là ở trong nơi mà ngươi đã được dựng nên, trong đất ngươi sanh ra, mà ta sẽ xét đoán ngươi.
31Na nuiah palung ka phuihaih ka kraih moe, palung ka phuihaih hmai hoiah kang uengh thuih pacoengah, kami hum thaih, tahmenhaih tawn ai kaminawk ban ah kang paek han.
31(021-36) Ta sẽ đổ cơn giận ta trên ngươi; lấy lửa của sự thạnh nộ ta mà thổi trên ngươi, và ta sẽ phó ngươi trong tay người tàn bạo, giỏi sự hủy diệt.
32Nang loe hmaitik koi thing ah na om ueloe, prae thungah na thii to long tih; mi mah doeh nang to panoek mak ai boeh, tiah Kai, Angraeng mah thuih boeh, tiah ang naa.
32(021-37) Ngươi sẽ làm củi cho lửa; máu ngươi sẽ ở giữa đất; và người ta sẽ không còn nhớ ngươi nữa; vì ta, Đức Giê-hô-va, đã phán.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.