Ezekiel 29
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Saning hato, khrah hato haih, ni hathlai hnetto na niah, Angraeng ih lok to kai khaeah angzoh,
1Năm thứ mười, tháng mười, ngày mười hai, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2kami capa, Izip siangpahrang Faro khaeah angqoi ah loe, anih hoi Izip prae kaminawk boih misa haih lok to taphong ah:
2Hỡi con người, hãy xây mặt nghịch cùng Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, mà nói tiên tri nghịch cùng người và cùng cả Ê-díp-tô nữa.
3Angraeng Sithaw mah, Khenah, Izip siangpahrang Faro, nang loe vapuinawk thungah na oh moe, Kai ih vapui loe kai ih ni, kaimah ni kaimah hanah ka sak, tiah kathui pahui pui, nang to kang tuk han.
3Hãy nói mà rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, nầy, ta nghịch cùng ngươi, ngươi là con vật quái gở nằm giữa các sông mình, mà rằng: Sông của ta thuộc về ta, ấy là ta đã làm nên cho ta.
4Toe na kamhuh ah cakoih hoi kang tathok moe, nangmah ih vapui thung ih tanganawk to nang ih ahin ah ka kapsak boih han; nangmah ih vapuinawk thung hoiah kang tathok tahang moe, nangmah ih vapuinawk thung ih tanganawk to nang ih ahin ah ka kapsak boih han.
4ã, ta sẽ đặt những móc trong hai hàm ngươi, và khiến những cá trong các sông ngươi đều dính nơi vảy ngươi. Ta sẽ kéo ngươi lên khỏi giữa các sông ngươi, ngươi và những cá trong các sông ngươi đã dính nơi vảy ngươi nữa.
5Nangmah hoi nangmah ih vapuinawk thung ih tanganawk to praezaek ah ka vah boih han; na tak loe long ah krah tih, mi mah doeh nang to la o mak ai, akhui o mak ai; nang loe taw ih moi kasannawk hoi van ih tavaanawk rawkcak ah ka paek boeh.
5Ta sẽ quăng ngươi vào đồng vắng, ngươi và những cá của các sông ngươi. Ngươi sẽ ngã xuống trên mặt đồng ruộng; sẽ chẳng được lượm lại, cũng chẳng được thâu lại. Ta đã phó ngươi làm đồ ăn cho loài thú dưới đất và loài chim trên trời.
6To naah Izip kaminawk boih mah Kai loe Angraeng ni, tiah panoek o tih; nihcae loe Israel kaminawk hanah sakrungkung hoiah sak ih cunghet ah oh o boeh.
6Bấy giờ hết thảy dân cư Ê-díp-tô sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, vì chúng nó đã nên cây gậy bằng sậy cho nhà Y-sơ-ra-ên.
7Nihcae mah ban hoi ang patawnh o naah, na koih phaem moe, nihcae ih palaeng to na aah pae boih; nang khaeah amha o naah, na koih phaem moe, nihcae hnukbang ih kaeng to na thunh pae, tiah thuih, tiah thui paeh, tiah ang naa.
7Khi chúng nó cầm lấy ngươi bởi tay, thì ngươi tự gãy, và làm xây xác chúng nó cả vai; khi chúng nó nương dựa trên ngươi, thì ngươi tự giập ra, và làm cho lưng chúng nó xiêu tó.
8To pongah Angraeng Sithaw mah, Khenah, nang khaeah sumsen ka sin moe, nang ih kami hoi pacah ih moinawk to ka hum han.
8Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đem gươm đến trên ngươi, và sẽ dứt khỏi ngươi cả người và loài thú.
9Anih mah, Vapuinawk loe kai ih ni, kaimah ni ka sak, tiah thuih pongah, Izip prae loe amro ueloe, pong sut tih boeh; to naah nihcae mah Kai loe Angraeng ni, tiah panoek o tih.
9Đất Ê-díp-tô sẽ trở nên nơi hoang vu vắng vẻ; và chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va. Vì Pha-ra-ôn có nói rằng: Sông thuộc về ta, ấy là ta đã làm nên;
10Khenah, nang hoi nangmah ih vapuinawk to misa ah ka suek; Izip prae loe Migdol hoi Syene karoek to, Ethiopia prae ramri khoek to kam rosak moe, ka pongsak sut han.
10cho nên, nầy, ta nghịch cùng ngươi và các sông ngươi, và sẽ khiến đất Ê-díp-tô thành ra đồng vắng hoang vu, từ tháp Sy-e-nê cho đến bờ cõi Ê-thi-ô-bi.
11Kami khok hoi moi khok mah to prae to cawh mak ai, saning qui palito thung mi doeh to prae ah om mak ai.
11Chẳng có bàn chân người sẽ đi qua nó, cũng chẳng có bàn chân thú vật đi qua nó, cũng chẳng có dân cư ở đó nữa trong bốn mươi năm.
12Kamro praenawk baktiah Izip prae doeh kam rosak han, Izip ih vangpuinawk loe pong sut vangpuinawk salakah saning qui palito thung amro tih; Izip kaminawk to prae kaminawk salakah kam hetsak moe, prae kruekah kang haehsak han, tiah thuih.
12Ta sẽ khiến Ê-díp-tô làm một đất hoang vu ở giữa các nước nào hoang vu, và các thành nó ở giữa các thành tàn phá sẽ hoang vu trong bốn mươi năm. Ta sẽ làm tan tác dân Ê-díp-tô trong các dân, và rải chúng nó ra trong các nước.
13Toe Angraeng Sithaw mah, Saning qui palito boeng naah loe, amhet o phanghaih ahmuen kruek ih Izip kaminawk to ka pakhueng let han:
13Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Mãn bốn mươi năm, ta sẽ nhóm dân Ê-díp-tô lại từ giữa các dân mà trong đó chúng nó đã bị tan tác.
14misong ah naeh ih Izip kaminawk to ka zaeh let moe, angmacae ohhaih, Pathros prae ah kam laemsak let han; nihcae loe to ih thazok siangpahrang ukhaih prae ah om o tih.
14Ta sẽ làm cho những phu tù Ê-díp-tô trở về, và đem chúng nó về trong đất Pha-trốt, là đất quê quán của chúng nó, nhưng chúng nó chỉ lập nên một nước yếu hèn.
15To prae loe siangpahrang ukhaih praenawk boih thungah thazok koek prae ah om tih, natuek naah doeh kalah praenawk nuiah amoek o mak ai boeh; nihcae mah kalah prae kaminawk uk han ai ah, tha ka zoksak han.
15Nước Ê-díp-tô sẽ là một nước yếu hèn hơn hết các nước, và sẽ không dấy lên trên các nước nữa; ta sẽ khiến chúng nó kém đi, hầu cho chúng nó không cai trị các nước nữa.
16Izip loe Israel imthung takoh mah oep mak ai boeh, nihcae a khet o naah, angmacae sakpazaehaih amtuengsakkung ah om tih boeh; to naah nihcae mah Kai loe Angraeng Sithaw ni, tiah panoek o tih, tiah thuih.
16Nước ấy sẽ không còn làm sự nhờ cậy cho nhà Y-sơ-ra-ên; khi nhà Y-sơ-ra-ên trông xem chúng nó thì sẽ nhắc lại sự gian ác; và chúng nó sẽ biết rằng ta là Chúa Giê-hô-va.
17Saning pumphae sarihto, khrah tangsuek haih, hmaloe koek niah, Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
17Năm thứ hai mươi bảy, ngày mồng một tháng giêng, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
18kami capa, Babylon siangpahrang Nebuchadnezzar mah Tura vangpui tuk hanah angmah ih misatuh kaminawk to misa angtukhaih ahmuen ah patoeh; to pongah misatuh kaminawk ih sam to angmuen boih moe, palaeng doeh angdui o boih boeh; toe siangpahrang angmah hoi anih ih misatuh kaminawk loe Tura vangpui misatukhaih atho tidoeh hnu o ai:
18Hỡi con người, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã gán cho đạo binh mình những việc rất nặng nhọc nghịch cùng Ty-rơ; mọi đầu đều đã trở nên trọc, mọi vai đều đã bị mòn; mà vua ấy chưa được tiền công nào của thành Ty-rơ, hoặc cho mình, hoặc cho đạo binh mình, để bù lại công khó mình đã đánh thành ấy.
19to pongah Angraeng Sithaw mah, Khenah, Izip to Babylon siangpahrang Nebuchadnezzar khaeah ka paek han boeh; anih mah prae kaminawk hoi congca hmuenmaenawk to la ueloe, angmah ih misatuh kaminawk hanah misatukhaih atho ah paek tih, tiah thuih.
19Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó đất Ê-díp-tô cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn; người sẽ bắt lấy dân chúng, cất lấy của cướp và mồi nó; đó sẽ là tiền công của đạo binh người.
20Kai ih tok a sak o pongah, Tura vangpui misatukhaih atho ah Izip prae to anih han ka paek boeh, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
20Ta đã phó đất Ê-díp-tô cho người để thưởng sự khó nhọc người đã chịu, vì chúng nó đã làm việc cho ta. Chúa Giê-hô-va phán vậy.
21To na niah loe Israel imthung takoh to takii ka tacawtsak moe, nihcae salakah pakha kang aangsak han; to naah nihcae mah Kai loe Angraeng ni, tito panoek o tih, tiah thuih.
21Trong ngày đó, ta sẽ khiến nhà Y-sơ-ra-ên nứt ra một cái sừng, và ta sẽ cho ngươi mở miệng giữa chúng nó; và chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.