2 Dungkroekhaih 23
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Saning sarihto akoep naah, Jehoiada loe thacakhaih hoiah oh; anih mah misatuh cumvaito ukkung angraengnawk, Jehoram capa Azariah, Jehohanan capa Ishmael, Obed capa Azariah, Adaiah capa Maaseiah, Zikri capa Elishaphat cae hoi lokmaihaih to sak.
1Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa làm cho mình nên mạnh, vời các quan tướng cai trăm người, là A-xa-ria, con trai của Giê-rô-ham, ỗch-ma-ên, con trai của Giô-ha-nan, A-xa-ria, con trai của Ô-bết, Ma-a-xê-gia, con trai của A-đa-gia, và Ê-li-sa-phát, con trai của Xiếc-ri, và lập giao ước với các người ấy.
2Nihcae loe Judah prae pum ah caeh o moe, vangpui kruek ih Levi acaengnawk hoi Israel acaeng lu koeknawk to amkhuengsak, nihcae loe Jerusalem ah angzoh o.
2Những người ấy đi khắp xứ Giu-đa, và từ các thành Giu-đa nhóm người Lê-vi và các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên; rồi họ đều đến Giê-ru-sa-lem.
3Rangpui boih siangpahrang hoi nawnto Sithaw im thungah lokmaihaih to sak o. Jehoiada mah nihcae khaeah, Khenah, David ih capanawk kawng pongah Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, singpahrang capa ni siangpahrang ah om tih.
3Cả hội chúng đều lập giao ước với vua tại trong đền thờ của Đức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa nói với chúng rằng: Nầy con trai của vua sẽ cai trị theo lời Đức Giê-hô-va đã phán về con cháu Đa-vít.
4Vaihiah na sak o han ih loe, Sabbath niah toksak han kaom qaima hoi Levi acaengnawk thumto thungah, maeto mah thok to toep tih.
4Nầy điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi, tức những thầy tế lễ và người Lê-vi, đến phiên trong ngày sa-bát, sẽ giữ cửa;
5Thumto thungah maeto mah siangpahrang im to toep tih; kalah thumtonawk thungah maeto mah khongkha to toep tih; kalah kaminawk boih loe Angraeng ih longhmaa ah om o tih.
5một phần ba sẽ vào trong cung vua, và một phần ba ở nơi cửa Giê-sốt; còn cả dân sự sẽ ở nơi hành lang của đền Đức Giê-hô-va.
6Toksah qaima hoi Levi acaengnawk khue ai ah loe, mi doeh Angraeng im thungah akun o thai mak ai; nihcae loe ciimcai o pongah, akun o thai tih; toe kalah kaminawk boih loe Angraeng mah paek ih tok to toep o tih.
6Chớ để ai vào trong đền của Đức Giê-hô-va ngoại trừ những thầy tế lễ và các người Lê-vi phục sự: họ sẽ vào, bởi vì họ thánh sạch, cả dân sự sẽ giữ mạng lịnh của Đức Giê-hô-va.
7Levi acaengnawk loe siangpahrang taengah om o tih; kami boih mah angmah angvaenghaih sumpai to sin han angaih; mi kawbaktih doeh im thungah akun kami loe hum oh; toe nangcae loe siangpahrang caehhaih ahmuen kruekah anih hnukah bang oh, tiah a naa.
7Người Lê-vi sẽ vây chung quanh vua, ai nấy đều cầm binh khí nơi tay; hễ ai vào đền thờ thì sẽ bị giết; các ngươi khá theo hầu vua khi người đi ra đi vào.
8To pongah Levi hoi Judah kaminawk boih loe qaima Jehoiada mah paek ih lok baktih toengah sak o; qaima Jehoiada mah tapraek ih abu to tok anghaksak ai pongah, Sabbath niah toksak han kaom kami hoi toksah ai ah kaom han koi kaminawk to angzoh o haih.
8Người Lê-vi và cả Giu-đa đều làm theo lời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã dặn bảo; mỗi người đều lãnh kẻ thủ hạ mình, hoặc những kẻ vào phiên ngày sa-bát hay là kẻ mãn phiên ngày sa-bát; vì thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa không cho các phiên đổi về.
9Im thung ih David siangpahrang ih tayaenawk, misa angvaenghaih aphawnawk to qaima Jehoiada mah lak moe, misatuh kami cumvaito ukkung angraengnawk khaeah paek.
9Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa phát cho các quan tướng cai trăm người, những giáo, khiên nhỏ và lớn của vua Đa-vít, để trong đền Đức Chúa Trời.
10Ban ah angvaenghaih sumpai sin kaminawk loe, siangpahrang taeng, hmaicam taeng hoi im banqoi bantang bangah ohsak.
10Người khiến dân chúng, ai nấy cầm binh khí mình, sắp hàng đứng chung quanh vua dài theo bàn thờ và đền, từ bên hữu đền cho đến bên tả đền.
11Siangpahrang capa to angzoh o haih moe, lu ah sui lumuek to angmuek o sak; lokmaihaih caqam to paek o moe, siangpahrang ah suek o; Jehoiada hoi a capanawk mah situi to bawh o moe, siangpahrang hinglung sawk nasoe, tiah hang o.
11Đoạn chúng đem vương tử ra, đội mão triều thiên trên đầu người, và trao luật pháp cho người, rồi tôn người làm vua; Giê-hô-gia-đa và các con trai người xức dầu cho người mà rằng: Vua vạn tuế!
12Kaminawk loe cawnh o, siangpahrang thapaekhaih lok Athaliah mah thaih naah, nihcae khaeah, Angraeng ih im ah caeh.
12Khi A-tha-li nghe tiếng dân sự chạy và chúc tụng vua, thì đi đến cùng dân sự tại trong đền Đức Giê-hô-va.
13A khet naah imthung akunhaih tung taengah angdoe siangpahrang to hnuk; angraengnawk hoi mongkah ueng kaminawk loe siangpahrang taengah angdoet o; prae kaminawk boih anghoe o moe, mongkahnawk to ueng o; laasah kaminawk doeh atuenpawk congca hoiah saphawhaih laanawk to sak o. To naah Athaliah mah angmah ih khukbuen to asih moe, Oep om ai kami, Oep om ai kami, tiah hangh.
13Bà xem thấy vua đứng trên cái sạp tại cửa vào; các quan tướng và kẻ thổi kèn đứng gần bên vua; còn cả dân sự của xứ đều vui mừng và thổi kèn, lại có những kẻ ca xướng gảy nhạc khí, mà ngợi khen Đức Chúa Trời. A-tha-li bèn xé áo mình mà la lên rằng: Phản ngụy! phản ngụy!
14Jehoiada mah misatuh kami cumvaito ukkung angraengnawk khaeah, Tasa bangah tacawt o haih ah, anih abomh kaminawk to sumsen hoiah hum oh; qaima mah Athaliah to Angraeng ih im thungah hum o hmah, tiah a naa.
14Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đòi ra các quan tướng cai trăm người được đặt thống quản đạo quân, mà biểu rằng: Hãy dẫn bà ra ngoài khỏi hàng quân, hễ ai theo bà, khá giết nó bằng gươm, vì thầy tế lễ đã dạy rằng: Chớ giết bà tại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
15Athaliah to naeh o moe, siangpahrang im caehhaih hrang khongkha phak naah, hum o.
15Chúng bèn vẹt đường cho bà; bà trở vào cung vua bởi nơi cửa ngựa vào; rồi chúng giết bà tại đó.
16Jehoiada mah Angraeng ih kami ah oh hanah angmah hoi kaminawk salak, siangpahrang hoi kaminawk salakah lokmaihaih to sak.
16Giê-hô-gia-đa bèn lập giao ước với cả dân sự và với vua, để chúng làm dân sự của Đức Giê-hô-va.
17Kaminawk boih Baal im ah caeh o, Baal im to phraek o pacoengah, anih ih hmaicamnawk hoi krangnawk doeh pakhoih pae o king; Baal ih qaima Mattan doeh hmaicam hmaa ah hum o.
17Cả dân sự đều đi đến miễu Ba-anh, phá dỡ nó, đập bể bàn thờ và hình tượng nó, rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh, tại trước bàn thờ.
18To pacoengah Jehoiada mah Mosi ih lokpaekhaih baktih toengah, Angraeng khaeah hmai angbawnhaih to sak moe, David mah thuih ih lok baktih toengah, anghoehaih hoi laasak hanah, im toksahkung ah David mah paek ih, Levi acaeng qaimanawk ban ah a paek.
18Chiếu theo ban thứ Đa-vít đã định trong đền của Đức Giê-hô-va, Giê-hô-gia-đa giao các chức sự về đền Đức Giê-hô-va vào tay những thầy tế lễ và người Lê-vi, đặng dân những của lễ thiêu cho Giê-hô-va cách ca hát vui mừng, y theo đều đã chép trong luật pháp của Môi-se, và theo lệ Đa-vít đã định.
19Ciimcai ai hmuennawk akun thai han ai ah, Angraeng im khongkha toep kaminawk doeh a suek.
19Người cũng đặt những kẻ canh cửa ở nơi các cửa đền Đức Giê-hô-va, hầu cho ai bị ô uế về vô luận sự gì, đều chẳng được vào đó.
20Misatuh kami cumvaito ukkung angraengnawk, toksah angraengnawk, kacoehtanawk hoi prae kaminawk boih to a kawk moe, Angraeng ih im thung hoiah siangpahrang to caeh o haih; kasang khongkha hoiah siangpahrang imthung ah akun o haih moe, siangpahrang to angraeng tangkhang nuiah anghnut o sak.
20Người lãnh lấy những quan tướng cai trăm người, kẻ tước vị và những người quan trưởng của dân, cùng cả dân sự của xứ, mà rước vua từ đền Đức Giê-hô-va xuống, đi vào cung vua bởi cửa trên, rồi đặt vua ngồi trên ngôi nước.
21Prae kaminawk boih anghoe o; Athaliah sumsen hoi hum o pacoengah loe, vangpui to amding rue boeh.
21Hết thảy dân sự của xứ đều vui mừng, và thành được bình tịnh. Vả, chúng đã giết A-tha-li bằng gươm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.