1 Siangpahrang 6
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Israel kaminawk Izip prae hoi amlaemhaih saning cumvai pali, quitazetto haih, Solomon siangpahrang mah Israel kaminawk ukhaih saning palito haih, Ziv khrah, hnetto haih akhrah naah, anih mah Angraeng ih im to sak amtong.
1Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên Y-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.
2Solomon siangpahrang mah Angraeng han sak ih im loe, dong quitarukto sawk, dong pumphaeto kawk moe, dong quithumto sang.
2Cái đền mà vua Sa-lô-môn cất cho Đức Giê-hô-va, bề dài có sáu mươi thước, bề ngang hai mươi thước, và bề cao ba mươi thước.
3Tempul akunhaih ahmaa ih im loe, dong pumphaeto sawk, im kawkhaih doeh to setto sawk toeng; im ih imphu hmabang loe dong hato oh.
3Cái hiên cửa ở trước đền bề dài hai mươi thước, bằng bề ngang của đền, và rộng mười thước ở trước đền.
4Im ah ni aengh akun thai hanah tamcaek thokbuemnawk to a sak.
4Vua cũng làm cho đền những cửa sổ có song, khuôn cây.
5Tempul tapang taeng, hmuenciim ataeng, im ataeng kangkui ah im akhaan to a sak.
5Người cất những từng lầu, dựa vào vách từ phía đền, tức là dựa vào vách chung quanh đền thờ và nơi thánh; cũng làm những phòng chung quanh đền.
6Atlim koek imkhaan loe dong pangato kawk; a um ih imkhaan loe dong tarukto kawk moe, thumto haih imkhaan loe dong sarihto kawk. Ataeh ih homh loe im tapang ah amha han ai ah, im tasa bangah imkhaan tetta to a sak.
6Từng dưới rộng năm thước, từng giữa rộng sáu thước; và từng trên rộng bảy thước, vì vua cất sụt lui các vách vòng ngoài nhà, đặng tránh sườn xà hoành đâm vào vách đền.
7Im sak naah, to ahmuen ah sin ai naah sak tangcae thlungnawk hoiah sak pongah, caki, caka hoi sum tuen roe im tasa bang hoiah angthai ai.
7Khi cất đền, người ta dùng đá đã đẽo sẵn nơi hầm, nên không nghe tiếng búa, rìu hay là khí dụng khác bằng sắt tại nơi đền đang khi cất.
8Imkhaan um ih thok loe, tempul bantang bangah oh; kangkoiah sak ih thlak hoiah ni aum ih imkhaan ah caeh, aum ih imkhaan hoiah thumto haih ranuih imkhaan ah caeh tahang.
8Cửa vào các phòng từng thứ nhì, ở bên phía hữu của đền; người ta đi lên từng giữa bởi một cái thang khu ốc; rồi từ từng giữa lên từng thứ ba.
9To tiah anih mah im to sak moe, a sak pacoeng; imphu loe sidar thing hoiah padih.
9Khi cất đền xong; thì Sa-lô-môn lợp nó bằng đòn tay và ván gỗ bá hương,
10Im tapang taengah imkhaan to sak boih; to ih imkhaannawk loe dong pangato sang o boih moe, im hoiah sidar thing to angbetsak boih.
10cũng cất những từng lầu năm thước dựa vào tứ phía đền, dính với nhà bởi cây đà bá hương.
11Angraeng ih lok Solomon khaeah phak,
11Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng:
12hae im na sakhaih kawng pongah, ka thuih ih loknawk to na pazui moe, kang paek ih loknawk hoi ka lokcaekhaihnawk to na pazui nahaeloe, nampa David khaeah ka suek ih lok to, nang khaeah ka koepsak han.
12về nhà này mà ngươi đang xây cất, nếu ngươi vâng theo các luật lệ ta, noi theo các mạng lịnh ta, giữ và đi trong hết thảy các điều răn của ta, thì ta sẽ vì ngươi làm hoàn thành lời ta đã hứa cùng Đa-vít, cha ngươi.
13Israel kaminawk salakah ka oh han, kaimah ih Israel kaminawk to ka caeh taak mak ai, tiah a naa.
13Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, chẳng hề bỏ Y-sơ-ra-ên, là dân ta.
14To pongah Solomon mah im to sak moe, pacoeng.
14Aáy vậy, Sa-lô-môn xây đền và làm cho hoàn thành.
15Im tapang hoi im athung to sidar thing hoiah a sak moe, athung bang ih imphu tapang doeh to tiah, sidar thing hoiah a sak; imcih loe hmaica thing hoiah sak.
15Người lấy ván bá hương đóng vách phía trong đền, từ đất cho đến trần, và lót nền đất bằng ván cây tùng.
16Kaciim koek ahmuen, Sithaw lokthuihaih ahmuen hanah, kasawk hoi kakawk dong pumphaeto kaom im to pakaa moe, imcih hoi imphu khoek to sidar thingphaek hoiah a sak.
16Từ cuối phía trong đền hai mươi thước, người đóng ngăn bằng ván bá hương, từ nền cho đến trần, đặng làm nơi chí thánh.
17To ih imkhaan hmaa ah kaom tempul loe dong quipalito sawk.
17Còn bốn mươi thước kia, làm tiền đường của đền thờ.
18Sidar thing hoi sak ih im athung bang loe, soi ih tuidue thaih krang hoi apawk tangmuem krang hoiah koi; hmuen boih sidar thing hoiah a sak; thlung hoi sak ih hnuk han koi hmuen tidoeh om ai.
18ỳ phía trong đền, có gỗ bá hương chạm hình dưa ác và hoa mới nở; toàn là gỗ bá hương, không thấy đá.
19Angraeng lokkamhaih thingkhong suek hanah, im athungah Sithaw lokthuihaih ahmuen to a sak.
19Còn nơi chí thánh, Sa-lô-môn đặt ở phía trong đền, tận cuối trong, đặng để hòm giao ước của Đức Giê-hô-va tại đó.
20Athung bang ih lokthuihaih ahmuen loe dong pumphaeto sawk, dong pumphaeto kawk moe, dong pumphaeto sang. To imkhaan hoi sidar thing hoiah sak ih hmaicam loe, anih mah sui tui hoiah pazut.
20Phía trong nơi chí thánh có hai mươi thước bề dài, hai mươi thước bề ngang, và hai mươi thước bề cao; người bọc nó bằng vàng ròng, và cũng bọc vàng bàn thờ bằng cây bá hương nữa.
21Solomon mah tempul athung bang to kaciim sui tui hoiah pazut; lokthuihaih hmaicam pakaahaih ah a hmaa ah sui hoi sak ih sumqui to payang.
21Sa-lô-môn bọc vàng ròng tuồng trong của nhà, và lấy xiềng vàng giăng trước nơi chí thánh và bọc bằng vàng.
22Tempul boih hoi lokthuihaih taengah kaom hmaicamnawk boih doeh, sui tui hoiah pazut.
22Người cũng bọc vàng toàn cả nhà; người cũng lót vàng khắp mặt bàn thờ ở đằng trước nơi chí thánh.
23Athung bang ih lokthuihaih ahmuen ah loe olive thing hoiah sak ih, dong hato kasang cherubim hnetto a sak.
23Người làm cho nơi chí thánh hai chê-ru-bin bằng gỗ ô-li-ve, bề cao mười thước.
24Cherubim maeto ih pakhraeh loe, dong pangato oh moe, kalah maeto bang ih pakhraeh doeh dong pangato oh; pakhraeh tadong maeto hoi maeto bang khoek to dong hato oh.
24Cánh này và cánh kia của mỗi chê-ru-bin có năm thước, thế là mười thước từ chót cánh này tới chót cánh kia.
25Kalah cherubim maeto bae loe dong hato oh; cherubim hnetto loe, akrang hoi a lenhaih doeh anghmong hoi.
25Chê-ru-bin thứ nhì cũng có mười thước. Hai chê-ru-bin đều đồng một cỡ và một dáng với nhau.
26Cherubim maeto loe dong hato sang moe, kalah cherubim maeto doeh to tiah sang toeng.
26Chê-ru-bin này có mười thước bề cao, và chê-ru-bin kia cũng vậy.
27Anih mah Cherubim to im athung koekah suek; cherubim pakhraeh phok naah, pakhraeh maeto mah tapang to phak moe, kalah maeto ih pakhraeh mah doeh maeto bang ih tapang to phak; imkhaan aum ah pakhraeh maeto hoi maeto angtongh hoi.
27Sa-lô-môn để hai chê-ru-bin tại nơi chí thánh, ở trong cùng của đền; cánh sè ra thế nào cho một cánh của chê-ru-bin thứ nhất đụng trong vách nầy, và một cánh của chê-ru-bin thư nhì đụng vách kia. Còn hai cánh khác đều đụng nhau tại giữa nơi chí thánh.
28Anih mah cherubimnawk to sui tui hoiah pazut.
28Người cũng bọc vàng cho hai chê-ru-bin.
29Im athung bang hoi tasa bang ih tapang nuiah, cherubim krang, ungsikung hoi apawk tangmuem krangnawk to oh.
29Bốn phía vách đền, phía trong và phía ngoài, Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở;
30Imcih loe sui hoiah pazut, athung hoi tasa bang doeh sui hoiah pazut boih.
30cũng phủ đất nhà bằng vàng, bề trong và bề ngoài.
31Lokthuihaih ahmuen akunhaih thoknawk loe, olive thing hoiah sak; thokbuem hoi homhnawk loe tapang pangato thungah maeto ahmuen to lak.
31Tại chỗ vào nơi chí thánh, người làm một cái cửa hai cánh bằng gỗ ô-li-ve; thanh và cột choán một phần năm của mặt tiền.
32Olive thing hoiah sak ih thok hnetto pongah, cherubim krang, ungsikung hoi kapawk apawknawk to soi moe, sui tui hoiah pazut; cherubim hoi ungsikung doeh sui tui hoiah pazut.
32Người khiến chạm nổi lên trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-li-ve ấy những hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở; rồi bọc bằng vàng, tráng vàng ra trên hình chê-ru-bin và hình cây chà là.
33Tapang ahmuen palito thungah ahmuen maeto kakawk, tempul thok homhnawk doeh olive thing hoiah a sak.
33Về cửa đền thờ, người cũng làm cột bằng gỗ ô-li-ve, choán hết một phần tư của vách,
34Thok maeto pongah thok amkhraephaih patta hnetto oh, thok hnetto loe hmaica thing hoiah a sak, kalah thok maeto pongah doeh thok amkhraephaih patta hnetto oh.
34lại làm hai cánh cửa bằng gỗ tòng; mỗi cánh có hai miếng trám khép lại được.
35To thok nuiah cherubim krang, ungsikung hoi apawk tangmuem krangnawk to soi pacoengah, soi ih krang to sui tui hoiah pazut boih.
35Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên những hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở; rồi bọc bằng vàng, tráng vàng ra trên các vật chạm trổ.
36Imthung longhma ih sipae to asom thumto khoek to thlung hoiah a thungh moe, sipae maeto loe sidar thing hoiah a thungh.
36Người xây tường hành lang phía trong bằng ba hàng đá chạm, và một hàng cây xà gỗ bá hương.
37Angraeng im ih imcih loe saning palito haih, Ziv khrah naah, a sak amtong.
37Năm thứ tư, năm tháng Xíp, cái nền của đền thờ Đức Giê-hô-va đã đặt;
38Saning hatlaito, Bul, tiah kawk ih khrah tazetto naah, sak atimhaih baktih toengah, im to a sak pacoeng boih. Anih mah im to saning sarihto thung sak.
38năm thứ mười một, nhằm tháng Bu-lơ, nghĩa là tháng tám, đền thờ hoàn thành trong mọi phần nó, theo kiểu đã ra. Sa-lô-môn cất đền hết bảy năm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.