1 Siangpahrang 21
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Jezreel vangpui ih kami, Naboth ih misur takha loe, Jezreel vangpui, Samaria siangpahrang Ahab ih im taengah oh.
1Sau các việc ấy, xảy có chuyện này: Na-bốt, người Gít-rê-ên, có một vườn nho tại trong đồng bằng Gít-rê-ên, giáp đền của A-háp, vua Sa-ma-ri.
2Ahab mah Naboth khaeah, Nang ih misur takha loe ka im taengah oh pongah, aan patit hanah na paek ah; hae ih misur takha pongah kahoih kue kalah misur takha to kang paek han, to tih ai boeh loe na koeh zetto, atho kang paek han hmang, tiah a naa.
2A-háp nói cùng Na-bốt rằng: Hãy nhường vườn nho của ngươi cho ta, để ta dùng làm vườn rau; vì nó ở gần bên đền ta. Ta sẽ đổi cho ngươi một vườn nho tốt hơn; hay là, nếu ngươi thích, ta sẽ cho ngươi bằng bạc.
3Toe Naboth mah Ahab khaeah, Kampanawk ih qawk nang paek hanah, Angraeng mah asaeng mak ai, tiah a naa.
3Nhưng Na-bốt thưa lại với A-háp rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va giữ lấy tôi, chớ để tôi nhường cho vua cơ nghiệp của tổ phụ tôi!
4Jezreel vangpui ih kami Naboth mah, Kampa ih qawk to nang han kang paek mak ai, tiah a naa pongah, Ahab loe poeknawm ai, palungphui hoiah angmah im ah amlaem. Mikhmai set hoiah a iihhaih ihkhun nuiah angsong moe, buh doeh caa ai.
4A-háp vào đền mình, buồn và giận, bởi có lời Na-bốt, người Gít-rê-ên đã nói; vì người đã nói rằng: Tôi không nhường cho vua cơ nghiệp của tổ tiên tôi. A-háp nằm trên giường, xây mặt đi, không chịu ăn.
5To naah a zu Jezebel loe anih taengah caeh moe, tipongah mikhmai na set moe, buh doeh na caa ai loe? tiah a naa.
5Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần người mà nói rằng: Bởi sao vua có lòng buồn rầu và không chịu ăn?
6Anih mah a zu khaeah, Jezreel ih kami Naboth khaeah, Na misur takha to phoisa hoiah na zaw ah; to tih ai boeh loe na koeh nahaeloe, a zuengah kalah misur takha kang paek han hmang, tiah ka naa. Toe anih mah, Misur takha to kang paek mak ai, tiah ang naa, tiah a thuih pae.
6Người đáp: Vì ta có nói chuyện với Na-bốt, người Gít-rê-ên rằng: Hãy nhường vườn nho ngươi cho ta mà lấy tiền, hay là nếu ngươi thích, ta sẽ đổi cho ngươi một vườn nho khác; song người đáp lại rằng: Tôi không nhường cho vua vườn nho của tôi.
7A zu Jezebel mah, Israel ukkung siangpahrang ah na oh na ai maw? Poeknawm ai ah om hmah; angthawk loe buh to caa ah. Jezreel kami Naboth ih misur takha to kang paek han, tiah a naa.
7Hoàng hậu Giê-sa-bên bèn nói rằng: Có phải ông hành quyền vua trên Y-sơ-ra-ên chăng? Hãy chổi dậy, ăn đi và vui lòng. Tôi sẽ ban cho ông vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên.
8To pongah Jezebel mah Ahab ih ahmin hoiah ca tarik moe, catui to daeng pacoengah, Naboth hoi nawnto kaom vangpui ih kacoehtanawk hoi angraengnawk boih khaeah a paek.
8Giê-sa-bên viết thơ nhân danh A-háp, đóng ấn vua, gởi cho các trưởng lão và kẻ cả ở trong thành Na-bốt và ở cùng người.
9To ih ca pongah, Buh zahhaih ni to taphong oh loe, Naboth to kaminawk hmaa ah hmuensang ah anghnu o sak ah;
9Trong thơ nói như vầy: Hãy truyền rao lễ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở đầu dân sự;
10anih hmaa ah kasae capa hnetto anghnu o sak ah; Naboth loe Sithaw hoi siangpahrang ahmin kasaethui kami ni, tiah nihnik mah hnukung ah om hoi nasoe. To pacoengah Naboth to hoi oh loe, thlung hoi va o maat ah, tiah tarik ih oh.
10đoạn, hãy để trước mặt người hai kẻ gian phạm làm chứng cho người, mà rằng: Ngươi có rủa sả Đức Chúa Trời và vua. Kế, hãy dẫn người ra khỏi thành, ném đá cho chết đi.
11Jezebel mah tarik moe, pat ih ca baktih toengah Naboth ih vangpui ah kaom kacoehtanawk hoi angraengnawk mah sak o.
11Những người của thành Na-bốt, tức những trưởng lão, và kẻ cả ở đó, đều làm theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thơ mà người đã gởi cho.
12Buhzahhaih ni to taphong o moe, kaminawk salak hmuensang ah Naboth to anghnut o sak.
12Họ rao truyền lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở đầu dân sự.
13To naah kahoih ai kami hnik to angzoh hoi moe, anih hmaa ah anghnut hoi; nihnik loe kasae hnukung ah oh hoi moe, minawk hmaa ah, Naboth mah Sithaw hoi siangpahrang ahmin sethaih a thuih, tiah zaehaih net hoi. To naah anih to vangpui tasa bangah zaeh o moe, thlung hoiah vah o maat.
13Bấy giờ, hai tên gian phạm đến ngồi trước mặt Na-bốt, và cáo gian người tại trước mặt dân sự, mà rằng: Na-bốt có rủa sả Đức Chúa Trời và vua. Đoạn, họ dẫn người ra khỏi thành, ném đá người chết.
14To pacoengah Jezebel khaeah, Naboth loe thlung hoi vah o maat moe, duek boeh, tiah thuih pae o.
14Họ bèn sai đến nói với Giê-sa-bên rằng: Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi.
15Naboth thlung hoi vah o maat boeh, tiah Jezebel mah thaih naah, Ahab khaeah, Angthawk loe, nang khaeah zawh han kangma, Jezreel ih kami Naboth ih misur takha to la lai ah; anih loe hing ai boeh; duek boeh, tiah a naa.
15Khi Giê-sa-bên hay rằng Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi, bèn nói cùng A-háp rằng: Hãy chổi dậy, nhận lấy vườn nho mà Na-bốt, người Gít-rê-ên, đã từ chối không chịu nhường cho ông để lấy bạc; vì Na-bốt không còn sống nữa: đã chết rồi.
16Naboth duek boeh ti, tiah Ahab mah thaih naah, angthawk moe, Naboth ih misur takha to lak hanah caeh tathuk.
16Nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đứng dậy đi xuống vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, đặng lấy làm của mình.
17Angraeng ih lok to Tishbeh vangpui ih kami Elijah khaeah angzoh,
17Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li, người Thi-sê-be, mà rằng:
18Samaria vangpui ah kaom, Israel siangpahrang Ahab to tongh hanah caeh tathuk ah; khenah, anih loe vaihi Naboth ih misur takha thungah oh, anih loe caeh tathuk moe, to ih takha to lak boeh.
18Hãy đứng dậy đi xuống đón A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, ở tại Sa-ma-ri. Kìa, người ở trong vườn nho của Na-bốt, đặng lấy làm của mình.
19Anih khaeah, Angraeng mah, Kami maeto na hum moe, a tawnh ih hmuen na lomh pae na ai maw? tiah a thuih, tiah a naa. To pacoengah anih khaeah, Angraeng mah, Naboth ih athii ui mah palaehhaih ahmuen ah, na thii to ui mah palaek toeng tih, ue, na thii to palaek tih, tiah a thuih, tiah a naa.
19Ngươi sẽ nói với người rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi há đã giết người, và bây giờ lại chiếm lấy cơ nghiệp nó sao? Ngươi phải tiếp rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: ỳ tại chỗ mà chó đã liếm huyết của Na-bốt, thì chó cũng sẽ liếm chính huyết của ngươi.
20Ahab mah Elijah khaeah, Aw ka misa, kai hae nang hnuk boeh maw? tiah a naa. Elijah mah, Kang hnuk boeh; Angraeng mikhnuk ah zaehaih toksak hanah nangmah hoi nangmah to nang zawh boeh.
20A-háp bèn nói cùng Ê-li rằng: ù kẻ thù nghịch, ngươi có gặp ta à? Ê-li đáp: Phải, tôi có gặp vua, bởi vì vua đã bán mình đặng làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va.
21Khenah, Angraeng mah na nuiah raihaih na phasak tih; Israel prae ah kaom tamna doeh, kaloih kami doeh, Ahab ih caa nongpanawk boih ka hum han,
21Vậy thì ta sẽ giáng họa trên ngươi. Ta sẽ quét sạch ngươi, trừ diệt các nam đinh của nhà A-háp, bất k” kẻ nô lệ hay là người tự do trong Y-sơ-ra-ên;
22Kai palung nang phuisak moe, Israel to na zaesak pongah, Nabat capa Jeroboam hoi Ahijah capa Baasha imthung takoh baktiah, na imthung takoh hae ka sak han, tiah a thuih, tiah a naa.
22vì ngươi chọc giận ta, xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên ta sẽ làm cho nhà ngươi giống như nhà của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.
23Jezebel pongah Angraeng mah, Jezreel sipae taengah Jezebel ih ngan to uinawk mah caa o tih, tiah thuih.
23Đức Giê-hô-va cũng phán về Giê-sa-bên, mà rằng: Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên tại thành lũy Gít-rê-ên.
24Vangpui thung kadueh Ahab ih kaminawk to uinawk mah caa o ueloe, taw ah kadueh kaminawk loe van ih tavaanawk mah caa o tih, tiah a naa.
24Phàm người thuộc về nhà A-háp, kẻ nào chết tại trong thành sẽ bị chó ăn; còn kẻ nào chết trong đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.
25Ahab hoi kanghmong kami maeto doeh om ai; anih loe a zu Jezebel mah pahruek pongah, Angraeng mikhnuk ah kahoih ai hmuen sak hanah angmah hoi angmah angzaw kami ah oh.
25Quả thật, chẳng có ai giống như A-háp, buông mình làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, vì bị hoàng hậu Giê-sa-bên xui giục người.
26Israel kaminawk hmaa ah Angraeng mah haek ih, Amor kaminawk mah sak ih hmuen baktih toengah, krangnawk hoi panuet thok hmuennawk to a sak.
26Người làm điều gớm ghiếc quá độ, mà theo hình tượng, y như dân A-mô-rít làm, là dân Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
27Ahab mah to lok to thaih naah, angmah ih kahni to asih moe, kazii to angzaeng pacoengah, buh a zah; kazii nuiah angsong moe, amzaita hoiah caeh.
27A-háp nghe lời của Ê-li nói, bèn xé quần áo mình; lấy bao mặc cho mình và nhịn đói; nằm vấn bao và ở khiêm nhượng.
28To naah Angraeng ih lok to Tishbe kami Elijah khaeah angzoh,
28Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li, người Thi-sê-be, mà rằng:
29Ahab mah ka hmaa ah poek pahnaemhaih hoiah khosakhaih to na hnuk maw? To tiah ka hmaa ah poekhaih pahnaem pongah, to raihaih to a hingthung ka phasak mak ai; toe a capa dung ah a imthung ah amrohaih ka phaksak han, tiah a naa.
29Ngươi có thấy thế nào A-háp hạ mình xuống trước mặt ta chăng? Bởi vì người hạ mình xuống trước mặt ta, ta không giáng họa trong đời nó; nhưng trong đời con trai nó ta sẽ giáng họa trên nhà nó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.