1 Siangpahrang 7
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Toe Solomon loe angmah ih siangpahrang im to saning hatlaithumto thung sak moe, pacoeng.
1Sa-lô-môn cũng cất cung điện mình, xong mọi việc trong mười ba năm.
2Lebanon tu thung ih thing hoiah siangpahrang im to a sak, kasawk dong cumvaito, kakawk dong quipangato oh moe, dong quithumto sang; homh palito hoi ataehhaih homhnawk loe sidar thing hoiah a sak.
2Người lại cất cái cung rừng Li-ban, bề dài một trăm thước, bề ngang năm mươi thước và bề cao ba mươi thước, đặt trên bốn hàng cột bằng gỗ bá hương có những xà ngang bằng gỗ bá hương để trên những cột.
3Ahmuen maeto naah kangphaeng ah tling ih homh hatlai pangato oh; homh kalen quipali, pangato nuiah kalah homhnawk to tling moe, sidar thing hoiah padih.
3Trần của các phòng bởi cột chống đỡ, số là bốn mươi lăm cây, mười lăm cây mỗi dãy, đều đóng bằng ván gỗ bá hương.
4Ni aengh akun thai hanah thokbuem to asom thumto karoek to, ahnuk ahma mikhmai kangtong ah a sak.
4Có ba dãy phòng, cửa sổ đối ngang nhau.
5Thok homh hoi thokbuemnawk loe kalen kasawk kangvan ah a sak moe, thokbuem maeto hoi maeto mikhmai kangtong ah a sak.
5Hết thảy cửa và cột đều vuông, và các cửa sổ của ba dãy phòng đều đối mặt nhau.
6Homh kalen pui hoiah impui to a sak, to imkhaan loe dong quipangato sang; dong quithumto kawk; akunhaih im hmaa ah imphu to oh, im hma ih imphu loe homhnawk hoiah ataeh o.
6Người cất hiên cửa có trụ, bề dài năm mươi thước, và bề rộng ba mươi thước: trước hiên này có một hiên khác cũng có trụ và bực.
7Anih loe lokcaekhaih im, angraeng tangkhang suekhaih im doeh sak; imcih loe maeto bang hoi maeto bang khoek to, sidar thing hoiah a sak.
7Sa-lô-môn cũng xây hiên để ngai, là nơi người xét đoán, và gọi là hiên xét đoán; rồi dùng ván gỗ bá hương lót từ nền đến trần.
8Siangpahrang angmah ohhaih imthungah to baktih, kalah impui akhaan maeto oh let bae vop; Faro canu Solomon ih zu hanah doeh to baktih im to a sak pae.
8Cung của Sa-lô-môn ở trong sân thứ nhì phía sau cửa hiên, cũng xây một cách giống như vậy. Cũng xây cho con gái Pha-ra-ôn mà Sa-lô-môn đã cưới, một cái cung như kiểu của hiên này.
9Tasa bang hoi kalen pui longhma khoek to, imcih hoi imphu khoek to, tah het ih thlung, sarang hoiah aah het ih thlung, atho kana thlungnawk hoiah a sak.
9Các cung điện này đều xây bằng đá quí, đục theo thước tấc, cưa xẻ, hoặc bề trong hay bề ngoài, từ nền đến cổ bồng cây cột, và cho đến vách cửa sân lớn đều cũng vậy.
10A sak ih imcih loe dong hato kaom thlung, dong tazetto kaom thlung, paroeai kahoih thlung, atho kana thlung hoiah a sak.
10Cái nền thì bằng đá quí và lớn, có hòn thì mười thước, hòn thì tám thước.
11To imcih nuiah loe aah het ih thlung, atho kana thlung hoi sidar thing to oh.
11Trên các nền này, lại còn những đá quí đục theo thước tấc và gỗ bá hương.
12Angraeng im longhma hoi ahma bang ih im baktih toengah, kalen pui longhma a taeng boih doeh aah het ih thlung thumto, sidar thing maeto hoiah a sak.
12Vách hành lang lớn, tứ vi có ba hàng đá chạm và một hàng cây đà bằng gỗ bá hương, y như hành lang phía trong của đền Đức Giê-hô-va, và y như cửa hiên đền.
13Solomon siangpahrang mah Tura vangpui ah kami patoeh moe, Hiram to kawksak.
13Vua Sa-lô-môn sai người đòi Hi-ram ở Ty-rơ đến.
14Anih loe Naphtali acaeng lamhmai ih capa ah oh; ampa loe Tura vangpui ih kami ah oh moe, sumkamling sah kop kami ah oh; Hiram loe sumkamling sak thoemhaih bangah kasang, panoek thaihaih katawn, congca sahthaih kami ah oh. Anih loe Solomon siangpahrang khaeah angzoh moe, sak han koi hmuennawk to a sak boih.
14Người là con trai của một đàn bà góa về chi phái Nép-ta-li, còn cha là người Ty-rơ, làm thợ đồng. Hi-ram đầy sự khôn ngoan, thông hiểu, có tài làm các thứ công việc bằng đồng. Người đến vua Sa-lô-môn, và làm mọi công việc người.
15Anih mah dong hatlaitazetto kasang, dong hatlaihnetto kalen, sumkamling homh hnetto a sak.
15Người làm hai cây trụ bằng đồng, cây thứ nhất cao mười tám thước, và một sợi dây mười hai thước đo bề tròn của cây thứ nhì.
16Homh nuiah pahnut hanah, dong pangato kasang sumkamling homh hoi dong pangato kasang kalah sumkamling homh maeto doeh a sak let.
16Người đúc hai đầu trụ bằng đồng, đặt nó trên chót trụ, bề cao đầu trụ này là năm thước, bề cao đầu trụ kia cũng là năm thước.
17Homh nuiah pahnut hanah, palok baktih kaom hmuen to a sak moe, sumkamling hoiah sumqui doeh a sak; homh maeto nuiah sumkamling quisarihto a suek boih.
17Những mặt võng xe lại và những dây hoa trèo như chuyền nhỏ trang điểm đầu trụ đặt ở trên chót trụ; có bảy dây hoa cho đầu trụ này, và bảy dây hoa cho đầu trụ kia.
18Sumkamling hoiah pomogranat thingthai krang to a soi moe, homh nuiah sak ih palok baktih kaom, imphu maeto nuiah hnetto kangphaeng ah a suek boih.
18Hi-ram vấn chung quanh mặt võng này hai hàng trái lựu đặng trang sức cho đầu trụ này, và cũng làm như vậy cho đầu trụ kia.
19Homh nuiah kaom im loe, lili pawk baktiah oh moe, dong palito oh.
19Những đầu trụ ở trên các cây trụ trong hiên cửa, đều có hoa huệ ở chót, cao bốn thước.
20Homh hnetto nuiah palok baktih kaom imphu to oh moe, homh maeto pongah soi ih pomogranat thingthai krang hnetto oh, a taeng boih ah soi ih pomogranat thingthai krang cumvai hnetto oh.
20Những đầu trụ ở trên trụ nẩy ra liền thân trên nơi hầu bên phía kia mặt võng: có hai trăm trái lựu sắp hai hàng vòng chung quanh hai đầu trụ.
21Tempul hma ih im ah homhnawk to a tling let bae; bantang bangah a tling ih homh loe Jachin, tiah ahmin paek; banqoi bangah tling ih homh loe Boaz, tiah ahmin sak.
21Hi-ram dựng những cây trụ trong hiên cửa đền thờ. Người dựng cây trụ bên hữu, và đặt tên là Gia-kin; đoạn dựng cây trụ bên tả, đặt tên là Bô-ách.
22Homhnawk nuiah lili pawk baktiah imphu to a sak; to tiah homhnawk to a sak pacoeng.
22Trên chót trụ, thì chế hình hoa huệ. Công việc làm những cây trụ đều hoàn thành là như vậy.
23Anih mah dong hato sawk, dong pangato sang moe, maeto hoi maeto aqai kangqum angbuet luet, dong quithumto kaom sumkamling hoiah sak ih tuili doeh sak.
23Người cũng làm biển đúc, hình tròn, cao năm thước; từ mép này đến mép kia có mười thước, một sợi dây ba mươi thước đo vòng tròn của nó.
24To tuili tlim ataeng boih ah, dong maeto kangthla ah tuidue thaih hato a suek; tuili loe tuidue thaih mah takui boih. Tuidue thaih to vai hnetto kangkui ah ah a suek.
24Dưới mép biển có hai hàng dưa ác vây chung quanh, cứ mỗi thước mười trái, đúc liền một với biển.
25Tuili loe maitaw tae krang hatlaihnetto nuiah oh, maitaw tae krangnawk loe laetabu athung bangah suek o boih; maitaw tae krang loe aluek bangah thuemto, niduem bangah thumto, aloih bangah thumto hoi ni angyae bangah thumto anghae o boih; soi ih maitaw tae krangnawk ranui ah tuili to oh.
25Biển để kê trên mười hai con bò, ba con hướng về bắc, ba con hướng về tây, ba con hướng về nam, và ba con hướng về đông. Biển thì đặt trên lưng các con bò ấy, và phía sau thân con bò đều xây vào trong.
26Tuili loe karto thah; athung bang ih aqai loe boengloeng qai baktiah oh moe, lili pawk kapawk krang to oh; to tuili loe tui bat sang hnetto akunh.
26Biển đầy một gang tay và mép làm giống mép chén và cách như bông huệ; nó đựng hai ngàn bát.
27Sumkamling hoiah sak ih dong palito kasawk, kangthui thaih pahnuthaih hato a sak; to hmuenmae pahnuthaih loe dong palito kawk moe, dong thumto sang.
27Người cũng làm mười viên táng đồng, mỗi viên bốn thước bề dài, bốn thước bề ngang, và ba thước bề cao.
28To hmuen pahnuthaih ataeng boih ah, aqai oh tahang poe hanah a sak.
28Các viên táng làm cách này: Có những miếng trám đóng vào khuông.
29Aqai kamkhraep salakah kaipui, maitaw tae hoi cherubim krangnawk to ranui bang khoek to soi tahang poe; kaipui hoi maitaw tae krangnawk tlim bangah apawk hoi sak ih bungmu baktiah kaom krang to a soi.
29Trên các trám đóng vào khuông này có hình sư tử, bò, và chê-ru-bin; nơi triêng trên, cũng có như vậy. Còn nơi triêng dưới sư tử và bò, có những dây hoa thòng.
30Angthui thaih hmuen pahnuthaih pongah, sumkamling hoiah sak ih akhok palito hoi akhok takathaih cungnawk to oh; to hmuen pahnuthaih palitonawk loe kathuk sabae baktiah oh moe, aqai ah apawk to a soi boih.
30Mỗi viên táng có bốn bánh xe đồng với cốt đồng, và nơi bốn góc có những cái đế đúc để chịu cái chậu và những dây hoa ở bên mỗi cái đế.
31Aqai athung bang hoi ranui bang khoek to dong maeto thuk; to hmuen pahnuthaih aqai kangkui loe dongto pacoeng, ahap oh; aqai loe angbuet luet ah om ai, takii palito ah oh moe, ahnuk ahma angvan boih.
31Giữa viên táng trên đầu trụ có một miệng tròn sâu một thước, và rộng một thước rưỡi. Cái miệng này cũng có hình chạm trổ. Còn các miếng trám thì vuông, chớ không phải tròn.
32Aqai tlim ah kamhae thaih akhoknawk to oh; kamhae akhok takathaih cungnawk loe aqai hoiah angpeh boih.
32Bốn bánh xe đều ở dưới những miếng trám; và các cốt bánh xe thì đóng vào viên táng. Mỗi bánh xe cao một thước rưỡi.
33Kamhae thaih akhok loe hrang lakok khok hoiah anghmong; takathaih sum, aqai, cung hoi akhoknawk to loe sum hoiah a sak.
33Bánh làm như bánh của cái cộ: Trục, vành, căm, và tum nó, đều đúc cả.
34Hmuen pahnuthaih maeto pongah ban patawnhaih ahmuen palito oh; takii maeto naah patawnhaih maeto oh moe, to tiah takii palito ah oh boih.
34Có bốn con bọ ở nơi bốn góc của mỗi viên táng và liền với táng.
35Hmuen pahnuthaih ranuiah, dong ahap kasang sum kangbuet luet to a suek, ranui ih aqai hoi ataehhaih homhnawk loe angvan o boih.
35Đầu viên táng hình tròn nhọn, và cao nửa thước; nó cũng có biên và trám.
36Ban patawnhaih ahmuen hoi ahmuen kakong homhnawk boih ah cherubim, kaipui hoi ungsikung krangnawk to a soi.
36Trên mặt biên và trám của đế, tại nơi trống của mỗi biên và trám chừa ra, Hi-ram chạm những chê-ru-bin, sư tử, cây chà là, và dây hoa chung quanh.
37Hae tiah hmuen pahnuthaih hato a sak; sakhaih dan loe angvan boih moe, kathoeng kalen anghmong boih.
37Người theo kiểu này mà làm mười viên táng, đúc một thứ, một cỡ, và một dáng với nhau.
38To pacoengah dong palito kaom, tui bat quipalito kakun sumkamling hoiah sak ih sabae thuk hato a sak; hmuen pahnuthaih maeto pongah sabae thuk maeto a suek boih.
38Người cũng làm mười cái thùng bằng đồng, mỗi cái chứa bốn mươi bát. Mỗi thùng có bốn thước và để trên một táng của mười cái táng.
39Im bantang bangah pangato a suek moe, im banqoi bangah pangato a suek; tuili loe im bantang, ni angyae aloih bang ih takii ah a suek.
39Người sắp đặt táng như vầy: băm cái về bên hữu đền, và năm cái về bên tả. Còn biển, người để nơi bên hữu đền, về hướng nam đông.
40Hiram mah kathuk sabaenawk, sabae hoi tui bawhhaih boengloengnawk to sak. Hiram mah Solomon siangpahrang hanah Angraeng ih im thungah sak pacoeng pae ih hmuennawk loe,
40Người cũng làm chảo, vá, và ảng. Vậy, Hi-ram làm xong mọi công việc cho Sa-lô-môn trong đền của Đức Giê-hô-va:
41homh hnetto; homh hnetto nuiah kaom, kathuk sabae baktih kaom hmuen hnetto, palok baktih kaom hmuen hnetto, homh a nui khukhaih sabae thuk baktih kaom hmuen hnetto,
41tức là hai cây trụ, hai đầu trụ tròn trên đỉnh trụ, hai tấm mặt võng bao hai đầu trụ tròn, luôn với đỉnh trụ;
42palok baktih kaom hmuen hnetto hanah pomogranat thingthai krang cumvai palito, homh nui ih sabae thuk baktih kaom hmuen hnetto khuk hanah, palok baktih sak ih imphu maeto pongah, hnetto kangkui ah pomogranat thingthai krang to a sak,
42bốn trăm trái lựu sắp hai hàng vòng chung quanh mặt võng bao hai đầu trụ tròn nơi đỉnh trụ;
43hmuen pahnuthaih hato hoi a nuiah suek ih sabae thuk baktih kaom hmuen hato,
43mười viên táng và mười cái bồn trên táng;
44tuili maeto, tuili tlim ah kaom maitaw tae hatlaihnetto,
44biển đúc nguyên miếng một và mười hai con bò để dưới biển;
45long laomnawk, long sohhaih hmuennawk hoi sabae thuk baktih kaom boengloengnawk doeh a sak; to tiah Hiram mah sumkamling hoiah Solomon siangpahrang hanah Angraeng im thung ih hmuennawk to a sak pae.
45chảo, vá, và ảng. Các khí dụng này mà Hi-ram làm cho Sa-lô-môn trong đền Đức Giê-hô-va, đều bằng đồng đánh bóng.
46Hae hmuennawk loe Solomon mah Sukkoth hoi Zarthan salak, tangphrung long kahoih ohhaih Jordan azawn ah sak.
46Vua biểu đúc các vật đó tại đồng bằng Giô-đanh, trong một nơi đất sét, giữa Su-cốt, và Sát-than.
47Hae hmuennawk loe pop hmoek pongah, Solomon mah azithaih to tah ai; sumkamling azithaih doeh panoek thai ai boeh.
47Sa-lô-môn không cân một món nào trong các khí dụng ấy, bởi vì nhiều quá; người không xét sự nặng của đồng.
48Angraeng im thung ih hmuennawk boih loe Solomon mah sak; to hmuennawk loe sui hoiah sak ih hmaicam, takaw suekhaih sui caboi,
48Sa-lô-môn lại làm những khí dụng cho đền Đức Giê-hô-va: là bàn thờ vàng, những bàn bằng vàng, để bánh trần thiết;
49Sithaw lokthuihaih hma bantang bangah, kaciim sui tui hoiah sak ih hmaithawk paanghaih to bantang bangah pangato, banqoi bangah pangato, sui hoiah sak ih apawk hoi sui hmai-im hoi taitaehnawk,
49chân đèn bằng vàng ròng đặt trước nơi chí thánh, năm cái ở bên hữu và năm cái ở bên tả cùng hoa, thếp đèn, và cái nỉa bằng vàng;
50kathuk sui sabaenawk, taitaehnawk, kathuk sabaenawk, kathlahnawk, hmuihoih thlaekhaih tabunawk; sui hoiah sak ih athung koek hmuenciim ih amkhraep thok takraenghaihnawk hoi tempul athung akunhaih thoknawk to a sak.
50những chén, dao, chậu, muỗng, và đồ đựng tro bằng vàng ròng; những chốt cửa hoặc dùng cho cửa của nhà phía trong, hoặc nơi chí thánh, hay là dùng cho cửa của đền thờ, thì đều bằng vàng.
51Angraeng ih im hanah Solomon siangpahrang mah sak pacoeng naah, ampa David mah paek ih hmuennawk to tempul thungah a sinh; sui, phoisa hoi laom sabaenawk to Angraeng ih hmuen suekhaih ahmuen ah a suek.
51Các công việc mà Sa-lô-môn làm cho nhà Đức Giê-hô-va, đều được hoàn thành là như vậy. Đoạn, Sa-lô-môn sai đem các vật mà Đa-vít, ca người, đã biệt ra thánh, tức là bạc, vàng, các thứ khí dụng, và để trong kho tàng của đền Đức Giê-hô-va.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.