Châm
Chapter 23
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Louis Segond 1910
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Khi con ngồi ăn bữa với một quan trưởng, Hãy xét kỹ người ở trước mặt con;
1Si tu es à table avec un grand, Fais attention à ce qui est devant toi;
2Nếu con có láu ăn, Khá để con dao nơi họng con.
2Mets un couteau à ta gorge, Si tu as trop d’avidité.
3Chớ thèm món ngon của người, Vì là vật thực phỉnh gạt.
3Ne convoite pas ses friandises: C’est un aliment trompeur.
4Con chớ chịu vật vã đặng làm giàu; Khá thôi nhờ cậy khôn ngoan riêng của con.
4Ne te tourmente pas pour t’enrichir, N’y applique pas ton intelligence.
5Con há liếc mắt vào sự giàu có sao? Nó đã chẳng còn nữa rồi; Vì nó quả hẳn có mọc cánh, Và bay lên trên trời như chim ưng vậy.
5Veux-tu poursuivre du regard ce qui va disparaître? Car la richesse se fait des ailes, Et comme l’aigle, elle prend son vol vers les cieux.
6Chớ ăn bánh của kẻ có mắt gian ác, Và đừng tham muốn những món ngon của hắn.
6Ne mange pas le pain de celui dont le regard est malveillant, Et ne convoite pas ses friandises;
7Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy. Hắn nói với con rằng: Hãy ăn uống đi; Nhưng trong lòng hắn chẳng hiệp cùng con.
7Car il est comme les pensées de son âme. Mange et bois, te dira-t-il; Mais son cœur n’est point avec toi.
8Miếng con đã ăn, con sẽ mửa ra, Và mất những lời hòa mĩ của con.
8Tu vomiras le morceau que tu as mangé, Et tu auras perdu tes propos agréables.
9Chớ nói vào lỗ tai kẻ ngu muội; Vì nó sẽ khinh dể sự khôn ngoan của các lời con.
9Ne parle pas aux oreilles de l’insensé, Car il méprise la sagesse de tes discours.
10Chớ dời đi mộc giới cũ, Đừng vào trong đồng ruộng của kẻ mồ côi;
10Ne déplace pas la borne ancienne, Et n’entre pas dans le champ des orphelins;
11Vì Đấng cứu chuộc của họ vốn quyền năng, Sẽ binh vực sự cáo tụng của chúng nó nghịch với con.
11Car leur vengeur est puissant: Il défendra leur cause contre toi.
12Hãy chuyên lòng về sự khuyên dạy, Và lắng tai nghe các lời tri thức.
12Ouvre ton cœur à l’instruction, Et tes oreilles aux paroles de la science.
13Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt,
13N’épargne pas la correction à l’enfant; Si tu le frappes de la verge, il ne mourra point.
14Aét giải cứu linh hồn nó khỏi âm phủ.
14En le frappant de la verge, Tu délivres son âme du séjour des morts.
15Hỡi con, nếu lòng con khôn ngoan, Thì lòng ta cũng sẽ được vui mừng;
15Mon fils, si ton cœur est sage, Mon cœur à moi sera dans la joie;
16Phải, chính ruột gan ta sẽ hớn hở Khi miệng con nói điều ngay thẳng.
16Mes entrailles seront émues d’allégresse, Quand tes lèvres diront ce qui est droit.
17Lòng con chớ phân bì với kẻ hung ác; Nhưng hằng ngày hãy kính sợ Đức Giê-hô-va.
17Que ton cœur n’envie point les pécheurs, Mais qu’il ait toujours la crainte de l’Éternel;
18Vì quả hẳn có sự thưởng thiện, Và sự trông đợi của con sẽ chẳng thành ra luống công.
18Car il est un avenir, Et ton espérance ne sera pas anéantie.
19Hỡi con, hãy nghe và trở nên khôn ngoan, Khá dẫn lòng con vào đường chánh.
19Écoute, mon fils, et sois sage; Dirige ton cœur dans la voie droite.
20Chớ đồng bọn cùng những bợm rượu, Hoặc với những kẻ láu ăn;
20Ne sois pas parmi les buveurs de vin, Parmi ceux qui font excès des viandes:
21Vì bợm rượu và kẻ láu ăn sẽ trở nên nghèo; Còn kẻ ham ngủ sẽ mặc rách rưới.
21Car l’ivrogne et celui qui se livre à des excès s’appauvrissent, Et l’assoupissement fait porter des haillons.
22Hãy nghe lời cha đã sanh ra con, Chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu.
22Écoute ton père, lui qui t’a engendré, Et ne méprise pas ta mère, quand elle est devenue vieille.
23Hãy mua chân lý, Sự khôn ngoan, sự khuyên dạy, và sự thông sáng; chớ hề bán đi.
23Acquiers la vérité, et ne la vends pas, La sagesse, l’instruction et l’intelligence.
24Cha người công bình sẽ có sự vui vẻ lớn, Và người nào sanh con khôn ngoan sẽ khoái lạc nơi nó.
24Le père du juste est dans l’allégresse, Celui qui donne naissance à un sage aura de la joie.
25Ước gì cha và mẹ con được hớn hở, Và người đã sanh con lấy làm vui mừng.
25Que ton père et ta mère se réjouissent, Que celle qui t’a enfanté soit dans l’allégresse!
26Hỡi con, hãy dâng lòng con cho cha, Và mắt con khá ưng đẹp đường lối của cha.
26Mon fils, donne-moi ton cœur, Et que tes yeux se plaisent dans mes voies.
27Vì kỵ nữ vốn là một cái hố sâu, Và dâm phụ là một cái hầm hẹp.
27Car la prostituée est une fosse profonde, Et l’étrangère un puits étroit.
28Nàng đứng rình như một kẻ trộm, Làm cho thêm nhiều kẻ gian tà trong bọn loài người.
28Elle dresse des embûches comme un brigand, Et elle augmente parmi les hommes le nombre des perfides.
29Ai bị sự hoạn nạn? Ai phải buồn thảm? Ai có sự tranh cạnh? Ai than xiết? Ai bị thương tích vô cớ? Ai có con mắt đỏ?
29Pour qui les ah? Pour qui les hélas? Pour qui les disputes? Pour qui les plaintes? Pour qui les blessures sans raison? Pour qui les yeux rouges?
30Tất những kẻ nán trễ bên rượu, Đi nếm thứ rượu pha.
30Pour ceux qui s’attardent auprès du vin, Pour ceux qui vont déguster du vin mêlé.
31Chớ xem ngó rượu khi nó đỏ hồng, Lúc nó chiếu sao trong ly, Và tuôn chảy dễ dàng;
31Ne regarde pas le vin qui paraît d’un beau rouge, Qui fait des perles dans la coupe, Et qui coule aisément.
32Rốt lại, nó cắn như rắn, Chít như rắn lục;
32Il finit par mordre comme un serpent, Et par piquer comme un basilic.
33Hai mắt con sẽ nhìn người dâm phụ, Và lòng con sẽ nói điều gian tà;
33Tes yeux se porteront sur des étrangères, Et ton cœur parlera d’une manière perverse.
34Thật, con sẽ như người nằm giữa đáy biển, Khác nào kẻ nằm trên chót cột buồm vậy.
34Tu seras comme un homme couché au milieu de la mer, Comme un homme couché sur le sommet d’un mât:
35Con sẽ nói rằng: Người ta đập tôi, nhưng tôi không đau; Người ta đánh tôi, song tôi không nghe biết: Khi tôi tỉnh dậy, tôi sẽ trở lại tìm uống nó nữa.
35On m’a frappé,… je n’ai point de mal!… On m’a battu,… je ne sens rien!… Quand me réveillerai-je?… J’en veux encore!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.