Mác 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Coptic New Testament (Bohairic)
1Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó, đến quê hương mình, có các môn đồ cùng đi theo.
1ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲘⲀⲨ ⲀϤⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲦⲈϤⲂⲀⲔⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲘⲞϢⲒ ⲚⲤⲰϤ ⲚϪⲈⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ
2Đến ngày Sa-bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội; thiên hạ nghe Ngài, lấy làm lạ mà nói rằng: Người bởi đâu được những điều nầy? Sự khôn sáng mà người được ban cho là gì, và thể nào tay người làm được những phép lạ dường ấy?
2ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤϢⲰⲠⲒ ⲚϪⲈⲞⲨⲤⲀⲂⲂⲀⲦⲞⲚ ⲀϤⲈⲢϨⲎⲦⲤ ⲚϮⲤⲂⲰ ϦⲈⲚϮⲤⲨⲚⲀⲄⲰⲄⲎ ⲞⲨⲞϨ ⲞⲨⲘⲎϢ ⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚⲀⲨⲈⲢϢⲪⲎⲢⲒ ⲈⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲈⲦⲀ ⲪⲀⲒ ϪⲈⲘ ⲚⲀⲒ ⲐⲰⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲞⲨ ⲦⲈ ⲦⲀⲒⲤⲞⲪⲒⲀ ⲈⲦⲀⲨⲦⲎⲒⲤ ⲘⲪⲀⲒ ⲚⲈⲘ ⲚⲀⲒⲔⲈϪⲞⲘ ⲘⲠⲀⲒⲢⲎϮ ⲈⲦϢⲞⲠ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲦⲈⲚ ⲚⲈϤϪⲒϪ
3Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đê, và Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư? Chúng bèn vấp phạm vì cớ Ngài.
3ⲘⲎ ⲪⲀⲒ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲠⲒⲀⲘϢⲈ ⲠϢⲎⲢⲒ ⲘⲘⲀⲢⲒⲀ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲤⲞⲚ ⲚⲒⲀⲔⲰⲂⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲒⲰⲤⲎⲦⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲒⲞⲨⲆⲀⲤ ⲚⲈⲘ ⲤⲒⲘⲰⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲈϤⲤⲰⲚⲒ ⲚⲤϨⲒⲘⲒ ⲚⲀⲨϨⲀⲘⲚⲀⲒ ϨⲀⲢⲞⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨⲈⲢⲤⲔⲀⲚⲆⲀⲖⲒⲌⲈⲤⲐⲈ ⲚϦⲎⲦϤ.
4Song Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Đấng tiên tri chỉ bị quê hương mình, bà con mình và trong nhà mình khinh dể mà thôi.
4ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲰⲞⲨ ⲚϪⲈⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ϪⲈ ⲘⲘⲞⲚ ⲞⲨⲠⲢⲞⲪⲎⲦⲎⲤ ⲈϤϢⲎϢ ⲈⲂⲎⲖ ϦⲈⲚⲦⲈϤⲂⲀⲔⲒ ⲚⲈⲘ ⲦⲈϤⲤⲨⲄⲄⲈⲚⲒⲀ ⲚⲈⲘ ⲠⲈϤⲎⲒ.
5ỳ đó, Ngài không làm phép lạ nào được, chỉ đặt tay chữa lành một vài người đau ốm;
5ⲞⲨⲞϨ ⲘⲠⲈϤϢϪⲈⲘϪⲞⲘ ⲘⲘⲀⲨ ⲈⲒⲢⲒ ⲞⲨⲆⲈ ⲞⲨⲒ ⲚϪⲞⲘ ⲈⲂⲎⲖ ⲈⲞⲨⲘⲎϢ ⲚⲢⲈϤϢⲰⲚⲒ ⲈⲀϤⲬⲀ ϪⲒϪ ⲈϪⲰⲞⲨ ⲀϤⲈⲢⲪⲀϦⲢⲒ ⲈⲢⲰⲞⲨ.
6và Ngài lấy làm lạ vì chúng chẳng tin. Rồi Ngài đi khắp các làng gần đó mà giảng dạy.
6ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲈⲢϢⲪⲎⲢⲒ ⲈⲐⲂⲈ ⲦⲞⲨⲘⲈⲦⲀⲐⲚⲀϨϮ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲘⲞⲨϢϮ ⲚⲚⲒϮⲘⲒ ⲈⲦⲈⲘⲠⲔⲰϮ ⲈϤϮⲤⲂⲰ
7Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma.
7ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲘⲞⲨϮ ⲈⲠⲒⲒⲂ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲈⲢϨⲎ ⲦⲤ ⲚⲞⲨⲞⲢⲠⲞⲨ ⲚⲂ ⲂⲞⲨⲞϨ ⲀϤϮⲈⲢϢⲒϢⲒ ⲚⲰⲞⲨ ⲈϪⲈⲚ ⲚⲒⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲚⲀⲔⲀⲐⲀⲢⲦⲞⲚ
8Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi;
8ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϨⲞⲚϨⲈⲚ ⲚⲰⲞⲨ ⲈϢⲦⲈⲘⲈⲖ ϨⲖⲒ ⲚⲈⲘⲰⲞⲨ ϨⲒ ⲪⲘⲰⲒⲦ ⲈⲂⲎⲖ ⲈⲞⲨϢⲂⲰⲦ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲞⲨⲆⲈ ⲰⲒⲔ ⲞⲨⲆⲈ ⲠⲎⲢⲀ ⲞⲨⲆⲈ ϨⲞⲘⲦ ϦⲈⲚⲚⲈⲦⲈⲚⲘⲞϪϦ
9chỉ mang dép, đừng mặc hai áo.
9ⲀⲖⲖⲀ ⲈⲢⲈ ϨⲀⲚⲤⲀⲚⲆⲀⲖⲒⲞⲚ ⲦⲞⲒ ⲈⲢⲀⲦⲈⲚ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲠⲈⲢϮ ϢⲐⲎⲚ ⲤⲚⲞⲨϮ ϨⲒ ⲐⲎⲚⲞⲨ
10Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi.
10ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲠⲒⲘⲀ ⲈⲦⲈⲦⲈⲚⲚⲀϢⲈ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲞⲨⲎⲒ ⲘⲘⲞϤ ϢⲰⲠⲒ ⲘⲘⲀⲨ ϢⲀⲦⲈⲦⲈⲚⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲘⲀⲨ
11Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ.
11ⲞⲨⲞϨ ⲘⲀ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲦⲈⲚϤⲚⲀϢⲈⲠ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈⲢⲞϤ ⲀⲚ ⲞⲨⲆⲈ ⲚⲦⲞⲨϢⲦⲈⲘⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈⲢⲰⲦⲈⲚ ⲀⲚ ⲈⲢⲈⲦⲈⲚⲚⲎⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲘⲀⲨ ⲚⲈϨ ⲠϢⲰⲒϢ ⲈⲦⲤⲀⲈϦⲢⲎⲒ ⲚⲚⲈⲦⲈⲚϬⲀⲖⲀⲨϪ ⲈⲂⲞⲖ ⲈⲨⲘⲈⲦⲘⲈⲐⲢⲈ ⲚⲰⲞⲨ.
12Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn;
12ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲀⲨϨⲒⲰⲒϢ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲤⲈⲈⲢⲘⲈⲦⲀⲚⲞⲒⲚ
13đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành.
13ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨϨⲒ ⲞⲨⲘⲎϢ ⲚⲆⲈⲘⲰⲚ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲘⲎϢ ⲚⲢⲈϤϢⲰⲚⲒ ⲚⲀⲨⲐⲰϨⲤ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲚⲚⲈϨ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨⲈⲢⲪⲀϦⲢⲒ ⲈⲢⲰⲞⲨ.
14Vả, vua Hê-rốt nghe nói về Đức Chúa Jêsus (vì danh tiếng Ngài đã trở nên lừng lẫy), thì nói rằng: Giăng, là người làm phép báp-tem, đã từ kẻ chết sống lại; cho nên tự người làm ra các phép lạ.
14ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚϪⲈⲠⲞⲨⲢⲞ ⲎⲢⲰⲆⲎ ⲤⲠⲈϤⲢⲀⲚ ⲄⲀⲢ ⲀϤⲞⲨⲞⲚϨϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲰⲘⲤ ⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲚⲎ ⲈⲐⲘⲰⲞⲨⲦ ⲈⲐⲂⲈⲪⲀⲒ ⲚⲒϪⲞⲘ ⲤⲈⲈⲢϨⲰⲂ ⲚϦⲎⲦϤ.
15Người thì nói: Aáy là Ê-li; kẻ thì nói: Aáy là đấng tiên tri, như một trong các đấng tiên tri đời xưa.
15ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ⲚⲀⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲎⲖⲒⲀⲤ ⲠⲈ ϨⲀⲚⲔⲈⲬⲰⲞⲨⲚⲒ ⲆⲈ ⲚⲀⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲞⲨⲠⲢⲞⲪⲎⲦⲎⲤ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲚⲞⲨⲀⲒ ⲚⲚⲒⲠⲢⲞⲪⲎ ⲦⲎⲤ ⲚⲀⲢⲬⲈⲞⲤ
16Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Aáy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại.
16ⲈⲦⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ⲚⲀϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲪⲎ ⲀⲚⲞⲔ ⲈⲦⲀⲒⲈⲖ ⲦⲈϤⲚⲀϨⲂⲒ ⲚⲐⲞϤ ⲠⲈⲦⲀϤⲦⲰⲚϤ.
17Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng,
17ⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ⲄⲀⲢ ⲚⲈⲀϤⲀⲘⲞⲚⲒ ⲚⲒⲰⲀⲚⲚⲎ ⲤⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲤⲞⲚϨϤ ϦⲈⲚⲠⲒϢⲦⲈⲔⲞ ⲈⲐⲂⲈ ⲎⲢⲰⲆⲒⲀⲤ ⲦⲤϨⲒⲘⲒ ⲘⲪⲒⲖⲒⲠⲠⲞⲤ ⲠⲈϤⲤⲞⲚ ϪⲈⲞⲨⲎ ⲒⲄⲀⲢ ⲚⲈⲀϤϬⲒⲦⲤ ⲠⲈ
18và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình.
18ⲚⲀϤϪⲰ ⲄⲀⲢ ⲘⲘⲞⲤ ⲠⲈ ⲚϪⲈⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲚⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ϪⲈ ⲤϢⲈ ⲚⲀⲔ ⲀⲚ ⲈϬⲒ ⲦⲤϨⲒⲘⲒ ⲘⲠⲈⲔⲤⲞⲚ.
19Nhân đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi.
19ⲎⲢⲰⲆⲒⲀⲤ ⲆⲈ ⲚⲀⲤⲘⲂⲞⲚ ⲈⲢⲞϤ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲤⲞⲨⲰϢ ⲈϦⲞⲐⲂⲈϤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲤϢϪⲈⲘϪⲞⲘ ⲀⲚ ⲠⲈ.
20Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe.
20ⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ⲄⲀⲢ ⲀϤⲈⲢϨⲞϮ ϦⲀⲦϨⲎ ⲚⲒⲰⲀⲚⲚⲎ ⲤⲈϤⲤⲰⲞⲨⲚ ⲘⲘⲞϤ ϪⲈ ⲞⲨⲢⲰⲘⲒ ⲚⲆⲒⲔⲈⲞⲤ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ϤⲞⲨⲀⲂ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤⲀⲢⲈϨ ⲈⲢⲞϤ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈϨⲀⲚⲘⲎϢ ⲚⲦⲞⲦϤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤϢⲞⲖϨ ⲚϨⲎⲦ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲆⲈⲰⲤ ⲚⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈⲢⲞϤ.
21Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các người tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê.
21ⲈⲦⲀ ⲞⲨⲈϨⲞⲞⲨ ⲆⲈ ϢⲰⲠⲒ ⲚⲈⲨⲔⲈⲢⲒⲀ ϨⲞⲦⲈ ⲈⲦⲀ ⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ϦⲈⲚⲠⲈϤⲈϨⲞⲞⲨ ⲘⲘⲒⲤⲒ ⲐⲀⲘⲒⲈ ⲞⲨⲆⲒⲠⲚⲞⲚ ⲚⲚⲈϤⲚⲒϢϮ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲬⲒⲖⲒⲀⲢⲬ ⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲒϨⲞⲨⲀϮ ⲚⲦⲈϮⲄⲀⲖⲒⲖⲈⲀ.
22Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho.
22ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲤⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲚϪⲈⲦϢⲈⲢⲒ ⲚⲎⲢⲰⲆⲒⲀⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲤϬⲞⲤϪⲈⲤ ⲀⲤⲢⲀⲚⲀϤ ⲚⲎⲢⲰⲆⲎⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲈⲐⲢⲞⲦⲈⲂ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲠⲈϪⲈ ⲠⲞⲨⲢⲞ ⲆⲈ ⲚϮⲀⲖⲞⲨ ϪⲈ ⲀⲢⲒⲈⲦⲒⲚ ⲘⲘⲞⲒ ⲘⲠⲈⲦⲈⲞⲨⲀϢϤ ⲚⲦⲀⲦⲎⲒϤ ⲚⲈ.
23Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất k” ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy.
23ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲰⲢⲔ ⲚⲀⲤ ϪⲈ ⲪⲎ ⲈⲦⲈⲢⲀⲈⲢⲈⲦⲒⲚ ⲘⲘⲞϤ ϮⲚⲀϮ ⲚⲈϢⲀ ⲦⲪⲀϢⲒ ⲚⲦⲀⲘⲈⲦⲞⲨⲢⲞ.
24Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít.
24ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲤⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲠⲈϪⲀⲤ ⲚⲦⲈⲤⲘⲀⲨ ϪⲈ ⲞⲨ ⲠⲈϮⲚⲀⲈⲢⲈⲦⲒⲚ ⲘⲘⲞϤ ⲚⲐⲞⲤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀⲤ ϪⲈ ⲦⲀⲪⲈ ⲚⲒⲰⲀⲚⲚⲎⲤ ⲠⲒⲢⲈϤϮⲰⲘⲤ
25Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm.
25ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲤⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ϦⲈⲚⲞⲨⲤⲠⲞⲨⲆⲎ ϨⲀ ⲠⲞⲨⲢⲞ ⲀⲤⲈⲢⲈⲦⲒⲚ ⲈⲤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ϮⲞⲨⲰϢ ϨⲒⲚⲀ ϮⲚⲞⲨ ⲚⲦⲈⲔϮ ⲚⲎⲒ ⲚⲦⲀⲪⲈ ⲚⲒⲰⲀⲚⲚⲎ ⲤⲠⲒⲢⲈϤϮⲰⲘⲤ ϨⲒ ⲞⲨⲂⲒⲚⲀϪ.
26Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng.
26ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀ ⲠϨⲎⲦ ⲘⲠⲞⲨⲢⲞ ⲘⲔⲀϨ ⲈⲐⲂⲈ ⲚⲒⲀⲚⲀⲨϢ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲈⲐⲢⲞⲦⲈⲂ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲘⲠⲈϤⲞⲨⲰϢ ⲈϤⲞϪⲤ.
27Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến.
27ⲞⲨⲞϨ ⲤⲀⲦⲞⲦϤ ⲀϤⲞⲨⲰⲢⲠ ⲚϪⲈⲠⲞⲨⲢⲞ ⲚⲞⲨⲤⲔⲈⲠⲰⲖⲀⲦⲞⲢ ⲀϤⲞⲨⲀϨⲤⲀϨⲚⲒ ⲚⲦⲈϤⲒⲚⲒ ⲚⲦⲈϤⲀⲪⲈ ϨⲒ ⲠⲒⲂⲒⲚⲀϪ.
28Người ấy đi chém Giăng trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái đem cho mẹ mình.
28ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲦⲎⲒⲤ ⲚϮⲀⲖⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϮⲀⲖⲞⲨ ⲦⲎⲒⲤ ⲚⲦⲈⲤⲘⲀⲨ.
29Môn đồ Giăng nghe tin, đến lấy xác người chôn trong mả.
29ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚϪⲈⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ⲀⲨⲒ ⲀⲨⲰⲖⲒ ⲘⲠⲒⲤⲰⲘⲀ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲬⲀϤ ⲚϦⲞⲨⲚ ϦⲈⲚⲞⲨⲘϨⲀⲨ.
30Các sứ đồ nhóm lại cùng Đức Chúa Jêsus, thuật cho Ngài mọi điều mình đã làm và dạy.
30ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲐⲰⲞⲨϮ ⲚϪⲈⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ϨⲀ ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲦⲀⲘⲞϤ ⲈϨⲰⲂ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲦⲀⲨⲀⲒϤ ⲚⲈⲘ ⲪⲎ ⲈⲦⲀⲨϮⲤⲂⲰ ⲘⲘⲞϤ
31Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút. Vì có kẻ đi người lại đông lắm, đến nỗi Ngài và sứ đồ không có thì giờ mà ăn.
31ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲀⲘⲰⲒⲚⲒ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲤⲀⲠⲤⲀ ⲈⲞⲨⲘⲀⲚϢⲀϤⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲘⲦⲞⲚ ⲘⲘⲰⲦⲈⲚ ⲚⲞⲨⲔⲞⲨϪⲒ ⲚⲎ ⲄⲀⲢ ⲈⲐⲚⲎⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲈⲐⲚⲀⲚⲀⲨⲞϢ ⲠⲈ. ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨϪⲈⲘ ⲈⲨⲔⲈⲢⲒⲀ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲈⲈⲢ ⲠⲔⲈⲞⲨⲰⲘ
32Vậy, Ngài và sứ đồ xuống thuyền đặng đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ.
32ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ϨⲒ ⲠⲒϪⲞⲒ ⲈⲞⲨⲘⲀⲚϢⲀϤⲈ ⲤⲀⲠⲤⲀ.
33Nhưng nhiều người thấy đi, thì nhìn biết; dân chúng từ khắp các thành đều chạy bộ đến nơi Chúa cùng sứ đồ vừa đi, và đã tới đó trước.
33ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲚⲀⲨ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲈⲨϨⲎⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲤⲰⲞⲨⲚⲞⲨ ⲚϪⲈⲞⲨⲘⲎϢ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨϬⲞϪⲒ ⲘⲘⲀⲨ ⲚⲢⲀⲦⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲂⲀⲔⲒ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲈⲢϢⲞⲢⲠ ⲈⲢⲰⲞⲨ.
34Bấy giờ Đức Chúa Jêsus ở thuyền bước ra, thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương xót đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi sự dạy dỗ họ nhiều điều.
34ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲀϤⲚⲀⲨ ⲈⲞⲨⲘⲎϢ ⲈϤⲞϢ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϢⲈⲚϨⲎⲦ ϦⲀⲢⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲚⲀⲨⲞⲒ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲚϨⲀⲚⲈⲤⲰⲞⲨ ⲘⲘⲞⲚⲦⲞⲨ ⲘⲀⲚⲈⲤⲰⲞⲨ ⲘⲘⲀⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲈⲢϨⲎⲦⲤ ⲚϮⲤⲂⲰ ⲚⲰⲞⲨ ⲚϨⲀⲚⲘⲎ Ϣ
35Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Chỗ nầy là vắng vẻ, và trời đã chiều rồi;
35ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲆⲎ ⲈⲦⲀ ⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲚⲞⲨⲚⲞⲨ ϢⲰⲠⲒ ⲈⲦⲀⲨⲒ ϨⲀⲢⲞϤ ⲚϪⲈⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎⲦⲎⲤ ⲚⲀⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲠⲒⲘⲀ ⲞⲨϢⲀϤⲈ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ϨⲎⲆⲎ ϮⲞⲨⲚⲞⲨ ⲀⲤⲤⲒⲚⲒ.
36xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn.
36ⲬⲀⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲞⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲈⲚⲒⲒⲞϨⲒ ⲈⲦⲔⲰϮ ⲚⲈⲘ ⲚⲒϮⲘⲒ ⲚⲦⲞⲨϢⲰⲠ ⲚⲰⲞⲨ ⲘⲠⲈⲦⲞⲨⲚⲀⲞⲨⲞⲘϤ.
37Ngài đáp rằng: Chính các ngươi phải cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: chúng tôi sẽ đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn hay sao?
37ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲀϤⲈⲢⲞⲨⲰ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲘⲞⲒ ⲚⲰⲞⲨ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲘⲀⲢⲞⲨⲞⲨⲰⲘ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ⲚⲀϤ ϪⲈ ⲦⲈⲚⲚⲀϢⲈ ⲚⲀⲚ ⲚⲦⲈⲚϢⲈⲠ ⲤⲚⲤⲀⲐⲈⲢⲒ ⲚⲰⲒⲔ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲈⲚϮ ⲚⲰⲞⲨ ⲈⲞⲨⲰⲘ.
38Ngài hỏi rằng: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử. Môn đồ xem xét rồi, thưa rằng: Năm cái bánh và hai con cá.
38ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲞⲨⲞⲚ ⲞⲨⲎⲢ ⲚⲰⲒⲔ ⲚⲦⲈⲚ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲘⲀϢⲈ ⲚⲰⲦⲈⲚ ⲀⲚⲀⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲈⲘⲒ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲈⲚⲰⲒⲔ ⲚⲈⲘ ⲦⲈⲂⲦ Ⲃ-.
39Ngài bèn truyền cho môn đồ biểu chúng ngồi xuống hết thảy từng chòm trên cỏ xanh.
39ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲞⲨⲀϨⲤⲀϨⲚⲒ ⲚⲰⲞⲨ ⲚⲦⲞⲨⲢⲰⲦⲈⲂ ⲚⲤⲒⲘⲠⲞⲤⲒⲞⲚ ⲤⲒⲘⲠⲞⲤⲒⲞⲚ ϨⲒϪⲈⲚ ⲠⲒⲤⲒⲘ ⲈⲐⲞⲨⲈⲦⲞⲨⲰⲦ
40Chúng ngồi xuống từng hàng, hàng thì một trăm, hàng thì năm chục.
40ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲢⲰⲦⲈⲂ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲘⲘⲀ ⲘⲀ ⲔⲀⲦⲀ ⲢⲢ ⲚⲈⲘ ⲔⲀⲦⲀ ⲚⲚ.
41Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh ra mà trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cá cho họ nữa.
41ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤϬⲒ ⲘⲠⲒⲈ ⲚⲰⲒⲔ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲦⲈⲂⲦ ⲂⲀϤϪⲞⲨϢⲦ ⲈⲦⲪⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲤⲘⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲪⲰϢ ⲚⲚⲒⲰⲒⲔ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϮ ⲚⲚⲒⲘⲀⲐⲎ ⲦⲎⲤ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲞⲨⲬⲰ ⲚⲀϨⲢⲀⲨ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲔⲈⲦⲈⲂⲦ ⲂⲀϤⲪⲀϢⲞⲨ ⲈϨⲢⲀⲨ ⲦⲎⲢⲞⲨ
42Ai nấy ăn no nê rồi;
42ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲞⲨⲰⲘ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲤⲒ.
43người ta lượm được mười hai giỏ đầy những miếng bánh và cá còn thừa lại.
43ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲰⲖⲒ ⲘⲒⲂ ⲚⲔⲞⲦ ⲚⲖⲀⲔϨ ⲈⲨⲘⲈϨ ⲚⲈⲘ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲚⲒⲔⲈⲦⲈⲂⲦ.
44Vả, số những kẻ đã ăn chừng năm ngàn người.
44ⲞⲨⲞϨ ⲚⲎ ⲈⲚⲀⲨⲞⲨⲰⲘ ⲚⲚⲒⲰⲒⲔ ⲚⲀⲨⲈⲢ ⲈⲚϢⲞ ⲚⲢⲰⲘⲒ.
45Rồi Ngài liền giục môn đồ vào thuyền, qua bờ bên kia trước mình, hướng đến thành Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho dân chúng về.
45ⲞⲨⲞϨ ⲤⲀⲦⲞⲦϤ ⲀϤⲈⲢⲀⲚⲀⲄⲔⲀⲌⲒⲚ ⲚⲚⲈϤⲘⲀⲐⲎ ⲦⲎⲤ ⲈⲀⲖⲎⲒ ⲈⲠⲒϪⲞⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲦⲞⲨⲤⲰⲔ ϦⲀϪⲰϤ ⲈⲘⲎⲢ ⲈⲂⲎⲐⲤⲀⲒⲆⲀ ϢⲀⲦⲈϤⲬⲀ ⲠⲒⲘⲎ ϢⲈⲂⲞⲖ.
46Ngài lìa khỏi chúng rồi, thì lên núi mà cầu nguyện.
46ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤⲈⲢⲀⲠⲞⲦⲀⲌⲈⲤⲐⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲈⲠⲒⲦⲰⲞⲨ ⲈⲈⲢⲠⲢⲞⲤⲈⲨⲬⲈⲤⲐⲈ.
47Đến tối, chiếc thuyền đang ở giữa biển, còn Ngài thì ở một mình trên đất.
47ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀ ⲢⲞⲨϨⲒ ϢⲰⲠⲒ ⲚⲀⲢⲈ ⲠⲒϪⲞⲒ ϦⲈⲚⲐⲘⲎϮ ⲘⲪⲒⲞⲘ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲐⲞϤ ⲘⲘⲀⲨⲀⲦϤ ⲚⲀϤⲬⲎ ϨⲒ ⲠⲒⲬⲢⲞ.
48Ngài thấy môn đồ chèo khó nhọc lắm, vì gió ngược. Lối canh tư đêm ấy, Ngài đi bộ trên biển mà đến cùng môn đồ; và muốn đi trước.
48ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤⲚⲀⲨ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲈⲨⲦϨⲈⲘⲔⲎ ⲞⲨⲦ ϦⲈⲚⲠⲒϪⲒⲚⲤⲰⲔ ⲚⲀⲢⲈ ⲠⲒⲐⲎⲞⲨ ⲄⲀⲢ ]- ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈϨⲢⲀⲨ ⲠⲈ ⲚϨⲢⲎⲒ ⲆⲈ ϦⲈⲚϮⲘⲀϨⲆ ⲚⲞⲨⲈⲢϢⲒ ⲚⲦⲈⲠⲒⲈϪⲰⲢϨ ⲀϤⲒ ϨⲀⲢⲰⲞⲨ ⲈϤⲘⲞϢⲒ ϨⲒϪⲈⲚ ⲪⲒⲞⲘ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀϤⲞⲨⲰϢ ⲈⲤⲈⲚⲞⲨ ⲠⲈ.
49Môn đồ thấy Ngài đi bộ trên mặt biển ngỡ là ma, nên la lên;
49ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲆⲈ ⲈⲦⲀⲨⲚⲀⲨ ⲈⲢⲞϤ ⲈϤⲘⲞϢⲒ ϨⲒϪⲈⲚ ⲪⲒⲞⲘ ⲚⲀⲨⲘⲈⲨⲒ ϪⲈ ⲞⲨϨⲞⲢⲦϤ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲰϢ ⲈⲂⲞⲖ
50vì ai nấy đều thấy Ngài và sợ hoảng. nhưng Ngài liền nói chuyện với môn đồ và phán rằng: Hãy yên lòng, ta đây đừng sợ chi.
50ⲚⲈ ⲀⲨⲚⲀⲨ ⲄⲀⲢ ⲈⲢⲞϤ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨϢⲐⲞⲢⲦⲈⲢ ⲚⲐⲞϤ ⲆⲈ ⲤⲀⲦⲞⲦϤ ⲀϤⲤⲀϪⲒ ⲚⲈⲘⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ϪⲈⲘⲚⲞⲘϮ ⲀⲚⲞⲔ ⲠⲈ ⲘⲠⲈⲢⲈⲢϨⲞϮ
51Ngài bèn bước lên thuyền với môn đồ, thì gió lặng. Môn đồ càng lấy làm lạ hơn nữa;
51ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲀⲖⲎⲒ ⲈⲠⲒϪⲞⲒ ϨⲀⲢⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤϨⲈⲢⲒ ⲚϪⲈⲠⲒⲐⲎⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨⲦⲰⲘⲦ ⲈⲘⲀϢⲰ ⲠⲈ ⲚϦⲢⲎⲒ ⲚϦⲎⲦⲞⲨ
52vì chẳng hiểu phép lạ về mấy cái bánh, bởi lòng cứng cỏi.
52ⲞⲨ ⲄⲀⲢ ⲘⲠⲞⲨⲔⲀϮ ⲈϪⲈⲚ ⲚⲒⲰⲒⲔ ⲀⲖⲖⲀ ⲚⲀⲢⲈ ⲠⲞⲨϨⲎⲦ ⲐⲎⲘ ⲠⲈ
53Khi Ngài và môn đồ đã qua khỏi biển, đến xứ Ghê-nê-xa-rết, thì ghé thuyền vào bờ.
53ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲈⲢϪⲒⲚⲒⲞⲢ ⲈⲘⲎⲢ ⲀⲨⲒ ⲈⲄⲈⲚⲚⲎ ⲤⲀⲢⲈⲐ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲘⲞⲚⲒ
54Vừa ở trong thuyền bước ra, có dân chúng nhận biết Ngài,
54ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨⲒ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒ ⲠⲒϪⲞⲒ ⲀⲨⲤⲞⲨⲰⲚϤ ⲤⲀⲦⲞⲦⲞⲨ
55chạy khắp cả miền đó, khiêng những người đau nằm trên giường, hễ nghe Ngài ở đâu thì đem đến đó.
55ⲀⲨϬⲞϪⲒ ϦⲈⲚϮⲬⲰⲢⲀ ⲦⲎⲢⲤ ⲈⲦⲈⲘⲘⲀⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲈⲢϨⲎⲦⲤ ⲘϤⲀⲒ ⲚⲚⲎ ⲈⲦⲦϨⲈⲘⲔⲎ ⲞⲨⲦ ϨⲒ ϨⲀⲚϬⲖⲞϪ ⲈⲠⲒⲘⲀ ⲈϢⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ϪⲈ ϤⲈⲘⲘⲀⲨ.
56Ngài đến nơi nào, hoặc làng, thành, hay chốn nhà quê, người ta đem người đau để tại các chợ, và xin Ngài cho phép mình ít nữa được rờ đến trôn áo Ngài; những kẻ đã rờ đều được lành bịnh cả.
56ⲞⲨⲞϨ ⲠⲒⲘⲀ ⲈϢⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈⲢⲞϤ ⲈⲚⲒϮⲘⲒ ⲒⲈ ⲚⲒⲂⲀⲔⲒ ⲒⲈ ⲚⲒⲒⲞϨⲒ ⲚⲀⲨⲬⲰ ⲚⲚⲎ ⲈⲦϢⲰⲚⲒ ϨⲒ ⲚⲒⲀⲄⲞⲢⲀ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨϮϨⲞ ⲈⲢⲞϤ ϨⲒⲚⲀ ⲔⲀⲚ ⲚⲦⲞⲨϬⲒ ⲚⲈⲘ ⲠⲒϢⲦⲀϮ ⲚⲦⲈⲚⲈϤϨⲂⲰⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈϢⲀⲨϬⲒ ⲚⲈⲘⲀϤ ϢⲀⲨⲞⲨϪⲀⲒ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.