Sáng 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi,
1A I ka wa o ka hoomaka ana e mahuahua ai na kanaka maluna o ka honua, a ua hanau mai na kaikamahine a lakou.
2các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ.
2Ike ae la na keiki a ke Akua i na kaikamahine a na kanaka, ua maikai lakou; lalau aku la lakou i na mea a lakou i makemake ai i mau wahine na lakou.
3Đức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi.
3I iho la o Iehova, Aole e noho loa ana kuu Uhane me kanaka, no ka mea, he kino no ia; aku, o kona mau la ma keia hope aku, he haneri makahiki ia a me ka iwakalua.
4Đời đó và đời sau, có người cao lớn trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng có danh.
4Noho iho la na kanaka nunui ma ka honua ia manawa; a mahope aku, a komo aku la na keiki a ke Akua iloko i na kaikamahine a na kanaka, a hanau mai na lakou ka poe kanaka ikaika, he poe kanaka kaulana lakou i ka wa kahiko.
5Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn;
5A ike mai la ke Akua, he nui ka hewa o kanaka ma ka honua, a ua hewa wale no ka noonoo ana o kona naau, ana i manao ai i na la a pau.
6thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng.
6A mihi iho la o Iehova i kana hana ana i na kanaka maluna o ka honua, a ua ehaeha kona naau.
7Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật, loài côn trùng, loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó.
7I iho la o Iehova, E luku auanei au i na kanaka a'u i hana'i, mai ke alo aku o ka honua, i na kanaka a me na holoholona, a me na mea kolo, a me na manu o ka lewa: no ka mea, ke mihi nei au i ka'u hana ana ia lakou:
8Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va.
8Aka, loaa ia Noa ke alohaia mai imua o Iehova.
9Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời.
9Eia ka mooolelo no Noa: He kanaka pono o Noa, a he hemolele iwaena o na hanauna ona, a hele pu o Noa me ke Akua.
10Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết.
10Ua hanau mai na Noa ekolu keikikane, o Sema, o Hama, a o Iapeta.
11Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác.
11Ua inoino hoi ka honua imua o ke Akua; a ua piha ka honua i ka hoino.
12Nầy, Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại.
12Nana mai la ke Akua i ka honua, aia hoi, ua inoino ia; no ka mea, ua hana ino na kanaka a pau i ko lakou aoao ma ka honua.
13Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất.
13Olelo mai la o Iehova ia Noa, Ua hiki mai i ko'u alo nei ka hope o na mea ola a pau; no ka mea, ua piha ka honua i ka hoino ma o lakou la: aia hoi, e luku auanei au ia lakou ma ka honua.
14Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.
14E hana oe i halelana nou; e hana hoi oe i na keena maloko o ka halelana, a e hapala ae i ke kepau maloko a mawaho.
15Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài tàu ba trăm thước, bề ngang năm mươi thước, bề cao ba mươi thước.
15Penei kau e hana aku ai: ekolu haneri kubita o ka loa o ka halelana, he kanalima na kubita ka laula, a he kanakolu na kubita o kona kiekie.
16Trên tàu ngươi sẽ làm một cửa sổ, bề cao một thước, và chừa một cửa bên hông; ngươi sẽ làm một từng dưới, một từng giữa và một từng trên.
16He malamalama kau e hana'i ma ka halelana, a e hoopaa ia mea maluna ma ke kubita; a e kau oe i ka pukakomo o ka halelana ma kona paia: a he papalalo, me ka papawaena, a me ka papaluna kau e hana'i ma ia mea.
17Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết.
17A owau la e, e lawe mai ana au i ke kaiakahinalii maluna o ka honua, i mea e lukuia'i na mea io a pau, i ka poe nona ka hanu ola malalo o ka lani; a e make na mea a pau ma ka honua.
18Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu.
18Aka, e hoopaa aku au i ka'u berita ia oe; a e komo ae oe iloko o ka halelana, o oe, me kau mau keikikane, a me kau wahine, a me na wahine a kau mau keikikane.
19Về các loài sanh vật, ngươi hãy dẫn xuống tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, hầu cho ở cùng ngươi đặng giữ tròn sự sống;
19A no na mea io a pau e ola ana, e lawe oe i elua o kela mea keia mea iloko o ka halelana, i kane i wahine, i malama ola pu ia lakou me oe.
20chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, côn trùng tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ tròn sự sống cho.
20O na manu ma ko lakou ano, a o na holoholona, ma ko lakou ano, a o kela mea kolo keia mea kolo o ka honua, ma kona ano iho, e hele papalua mai lakou iou la, i malama ola ia lakou.
21Lại, ngươi hãy lấy các thứ đồ ăn đem theo, đặng để dành làm lương thực cho ngươi và các loài đó.
21E lawe oe nau i na mea ai a pau, a e hoiliili oe ia iou la; i mea ai nau, a na lakou.
22Nô-ê làm các điều nầy y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn.
22Pela o Noa i hana'i; ma ka mea a pau a ke Akua i kauoha mai ai ia ia, pela oia i hana'i.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.