Sáng 12
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Aùp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
1I OLELO mai o Iehova ia Aberama, E hele aku oe mai kou aina aku, a mai kou poe hoahanau aku, a mai ka hale o kou makuakane aku, a hiki i ka aina a'u e kuhikuhi aku ai ia oe.
2Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước.
2A e hoolilo au ia oe i lahuikanaka nui, e hoomaikai aku hoi au ia oe, e hookaulana hoi au i kou inoa, a e lilo oe i mea e pomaikai ai.
3Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.
3E hoopomaikai aku hoi au i ka poe hoomaikai ia oe, a e hoino aku au i ka mea hoino ia oe, a ia oe e pomaikai ai na ohana a pau o ka honua.
4Rồi Aùp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Aùp-ram ra khỏi Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm.
4Hele aku la o Aberama e like me ka Iehova i olelo mai ai ia ia; a hele pu o Lota me ia. He kanahiku kumamalima na makahiki o Aberama, i kona wa i hele mai ai mai Harana mai.
5Aùp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.
5Lawe ae la o Aberama i kana wahine ia Sarai, a me Lota ke keiki a kona kaikuaana, a me ka waiwai a pau a lakou i hoiliili ai, a me na ohua a pau i loaa ia lakou ma Harana; a puka mai la lakou e hele mai i ka aina o Kanaana; a hiki mai la lakou i ka aina o Kanaana.
6Aùp-ram trải qua xứ nầy, đến cây dẻ bộp của Mô-rê, tại Si-chem. Vả, lúc đó, dân Ca-na-an ở tại xứ.
6Kaahele ae la o Aberama i ka aina, a hiki aku la i kahi o Sikema, i ka laau oka o More. E noho ana no na mamo a Kanaana ma ia aina ia manawa.
7Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Aùp-ram mà phán rằng: Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy! Rồi tại đó Aùp-ram lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, là Đấng đã hiện đến cùng người.
7Ikea ae la o Iehova e Aberama, i mai la ia, E haawi aku no wau i keia aina no kau poe mamo: malaila oia i hana'i i kuahu no Iehova, ka mea i ikea e ia.
8Từ đó, người đi qua núi ở về phía đông Bê-tên, rồi đóng trại; phía tây có Bê-tên, phía đông có A-hi. Đoạn, người lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va và cầu khẩn danh Ngài.
8Hele aku la ia mai ia wahi aku a ka puu ma ka hikina o Betela, a kukulu iho la i kona halelewa, o Betela ma ke komohana, a o Hai ma ka hikina: malaila oia i hana'i i kuahu no Iehova, a hea aku la ia i ka inoa o Iehova.
9Kế sau, Aùp-ram vừa đi vừa đóng trại lần lần đến Nam phương.
9Hele hou aku la o Aberama e neenee ana i ke kukuluhema.
10Bấy giờ, trong xứ bị cơn đói kém; sự đói kém ấy lớn, nên Aùp-ram xuống xứ Ê-díp-tô mà kiều ngụ.
10He wi ma ia aina; a hele aku la o Aberama ilalo i Aigupita e noho malihini malaila, no ka mea, ua nui loa ka wi ma ka aina.
11Khi hầu vào đất Ê-díp-tô, Aùp-ram bèn nói cùng Sa-rai, vợ mình, rằng: Nầy, ta biết ngươi là một người đàn bà đẹp.
11A kokoke aku la ia e komo i Aigupita, i aku la ia i kana wahine ia Sarai, Eia hoi ke ike nei au he wahine maikai oe ke nanaia'ku:
12Gặp khi nào dân Ê-díp-tô thấy ngươi, họ sẽ nói rằng: Aáy là vợ hắn đó; họ sẽ giết ta, nhưng để cho ngươi sống.
12Nolaila, a ike mai ko Aigupita ia oe, e olelo auanei lakou, Eia kana wahine; a e pepehi mai lakou ia'u, a e hoola ae lakou ia oe.
13Ta xin hãy xưng ngươi là em gái ta, hầu cho sẽ vì ngươi mà ta được trọng đãi và giữ toàn mạng ta.
13Ke nonoi aku nei au ia oe, e i aku oe, he kaikuwahine oe no'u, i pomaikai ai au ia oe, a e malamaia kuu ola nou.
14Aùp-ram vừa đến xứ Ê-díp-tô, dân Ê-díp-tô nhìn thấy người đàn bà đó đẹp lắm.
14A hiki aku la o Aberama i Aigupita, ike mai la ko Aigupita i ka wahine he maikai loa.
15Các triều thần của Pha-ra-ôn cũng thấy người và trằm trồ trước mặt vua; đoạn người đàn bà bị dẫn vào cung Pha-ra-ôn.
15A ike mai la na luna a Parao ia ia, hoomaikai lakou ia ia imua o Parao, a ua laweia aku la ua wahine la ma ka hale o Parao.
16Vì cớ người, nên Pha-ra-ôn hậu đãi Aùp-ram, và Aùp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái.
16Lokomaikai mai la oia ia Aberama no Sarai: a ia ia na hipa, na bipi, na hoki, na kauwakane, na kauwawahine, na hokiwahine, a me na kamelo.
17Song vì Sa-rai, vợ Aùp-ram, nên Đức Giê-hô-va hành phạt Pha-ra-ôn cùng nhà người bị tai họa lớn.
17Hooeha mai la o Iehova ia Parao a me kona poe ohua i na mai eha loa, no Sarai ka wahine a Aberama.
18Pha-ra-ôn bèn đòi Aùp-ram hỏi rằng: Ngươi đã làm chi cho ta vậy? Sao không tâu với ta rằng là vợ ngươi?
18Kahea mai la o Parao ia Aberama, i mai la, Heaha keia mea au i hana mai ai ia'u? No ke aha la i hai ole mai oe ia'u o kau wahine ia?
19Sao đã nói rằng: người đó là em gái tôi? nên nỗi ta đã lấy nàng làm vợ. Bây giờ, vợ ngươi đây; hãy nhận lấy và đi đi.
19No ke aha la oe i olelo mai ai, O ko'u kaikuwahine ia, i mea e lawe ai au ia ia i wahine na'u? Eia hoi kau wahine, e lawe oe ia ia, a e hele aku.
20Đoạn, Pha-ra-ôn hạ lịnh cho quan quân đưa vợ chồng Aùp-ram cùng hết thảy tài vật của người đi.
20Kauoha aku la o Parao i kona poe kanaka nona, a hoihoi mai la lakou ia ia, me kana wahine, a me kana mau mea a pau.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.