Sáng
Chapter 45
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Cornilescu Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Bây giờ, Giô-sép không còn thể nào cầm lòng cho đậu được trước mặt các người hầu chung quanh, bèn la lên rằng: Hãy đuổi họ ra hết thảy! Khi Giô-sép tỏ thật cùng các anh em mình, thì không có một người nào khác ở tại đó hết.
1Иосиф ну с-а май путут стэпыни ынаинтя тутурор челор че-л ынконжурау. Ши а стригат: „Скоатець афарэ пе тоатэ лумя.” Ши н-а май рэмас нимень ку Иосиф кынд с-а фэкут куноскут фрацилор сэй.
2Người cất tiếng lên khóc; dân Ê-díp-tô nghe và nhà Pha-ra-ôn nghe nữa.
2А избукнит ынтр-ун плынс аша де таре, кэ л-ау аузит еӂиптений ши каса луй Фараон.
3Giô-sép nói cùng anh em rằng: Tôi là Giô-sép. Cha tôi còn sống chăng? Nhưng trước mặt người các anh em bối rối, chẳng đáp lời được.
3Иосиф а зис фрацилор сэй: „Еу сунт Иосиф! Май трэеште татэл меу?” Дар фраций луй ну й-ау путут рэспунде, аша де ынкремениць рэмэсесерэ ынаинтя луй.
4Người lại nói rằng: Các anh em hãy lại gần tôi. Họ bèn lại gần. Người nói: Tôi là Giô-sép, em mà các anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô.
4Иосиф а зис фрацилор сэй: „Апропияци-вэ де мине.” Ши ей с-ау апропият. Ел а зис: „Еу сунт фрателе востру Иосиф, пе каре л-аць вындут ка сэ фие дус ын Еӂипт.
5Bây giờ, đừng sầu não, và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh.
5Акум, ну вэ ынтристаць ши ну фиць мыхниць кэ м-аць вындут ка сэ фиу адус аич, кэч ка сэ вэ скап вяца м-а тримис Думнезеу ынаинтя воастрэ.
6Kìa, hai năm rồi trong xứ đã bị đói kém, và còn năm năm nữa sẽ không còn cày cấy chi, gặt hái chi được hết.
6Ятэ, сунт дой ань де кынд бынтуе фоаметя ын царэ ши ынкэ чинч ань ну ва фи нич арэтурэ, нич сечериш.
7Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước, đặng làm cho các anh còn nối dòng trên mặt đất, và nương một sự giải cứu lớn đặng giữ gìn sự sống cho anh em.
7Думнезеу м-а тримис ынаинтя воастрэ ка сэ вэ рэмынэ сэмынца вие ын царэ ши ка сэ вэ пэстрезе вяца принтр-о маре избэвире.
8Không, chẳng phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời; Ngài dường đặt tôi làm cha Pha-ra-ôn, cai quản cả nhà người, và trị khắp xứ Ê-díp-tô.
8Аша кэ ну вой м-аць тримис аич, чи Думнезеу; Ел м-а фэкут ка ун татэ ал луй Фараон, стэпын песте тоатэ каса луй ши кырмуиторул ынтреӂий цэрь а Еӂиптулуй.
9Các anh hãy mau mau trở về cha tôi đi, và nói với người rằng: Giô-sép, con của cha, có nói như vầy: Đức Chúa Trời đã đặt tôi làm chúa cả xứ Ê-díp-tô, cha hãy xuống với tôi; xin đừng chậm trễ,
9Грэбици-вэ де вэ суиць ла татэл меу ши спунеци-й: ‘Аша а ворбит фиул тэу Иосиф: «Думнезеу м-а пус домн песте тот Еӂиптул; кобоарэ-те ла мине ши ну зэбови!
10cha, các con, các cháu, các chiên, bò cùng tài vật của cha sẽ ở tại xứ Gô-sen gần tôi đây.
10Вей локуи ын цинутул Госен ши вей фи лынгэ мине, ту, фиий тэй ши фиий фиилор тэй, оиле тале ши боий тэй ши тот че есте ал тэу.
11ỳ đó tôi sẽ nuôi cha, (vì còn năm năm đói kém nữa), e khi cha, người nhà cha, và hết thảy loài vật của cha phải bị ách mà hao mòn.
11Аколо те вой хрэни, кэч вор май фи ынкэ чинч ань де фоамете, ши астфел ну вей пери ту, каса та ши тот че есте ал тэу.»’
12Này, các anh và Bên-gia-min, em tôi, đã thấy tận mắt rằng, chính miệng tôi đã nói chuyện cùng các anh em đó.
12Вой ведець ку окий воштри ши фрателе меу Бениамин веде ку окий луй кэ еу ынсумь вэ ворбеск.
13Vậy, hãy thuật lại các điều vinh hiển của tôi tại xứ Ê-díp-tô, cùng mọi việc mà anh em đã thấy cho cha nghe, và hãy mau mau dời cha xuống đây.
13Историсиць татэлуй меу тоатэ слава пе каре о ам ын Еӂипт ши тот че аць вэзут ши адучець аич кыт май курынд пе татэл меу.”
14Đoạn, người ôm lấy cổ Bên-gia-min, em mình, mà khóc; Bên-gia-min cũng ôm cổ người mà khóc.
14Ел с-а арункат де гытул фрателуй сэу Бениамин ши а плынс, ши Бениамин а плынс ши ел де гытул луй.
15Người cũng ôm các anh mình mà khóc. Đoạn, anh em nói chuyện cùng người.
15А ымбрэцишат, де асеменя, пе тоць фраций луй, плынгынд. Дупэ ачея, фраций луй ау стат де ворбэ ку ел.
16Lập tức, tiếng đồn đến nhà Pha-ra-ôn rằng: Anh em Giô-sép đã đến. Pha-ra-ôn và quần thần nghe lấy làm đẹp dạ.
16С-а рэспындит вестя ын каса луй Фараон кэ ау венит фраций луй Иосиф; лукрул ачеста а плэкут луй Фараон ши служиторилор луй.
17Pha-ra-ôn bèn phán cùng Giô-sép rằng: Hãy dặn các anh em ngươi rằng: Hãy chở đồ lên lừa, đi trở về xứ Ca-na-an,
17Фараон а зис луй Иосиф: „Спуне фрацилор тэй: ‘Ятэ че сэ фачець: Ынкэркаци-вэ добитоачеле ши плекаць ын цара Канаанулуй,
18rước cha và người nhà của các ngươi xuống ở cùng ta. Ta sẽ nhượng cho vật tốt nhất trong xứ Ê-díp-tô, và các ngươi sẽ hưởng màu mỡ của đất.
18луаць пе татэл востру ши фамилииле воастре ши вениць ла мине. Еу вэ вой да че есте май бун ын цара Еӂиптулуй ши вець мынка грэсимя цэрий.’
19Còn ta dặn ngươi hãy nói lại cùng họ như vậy: Hãy đem xe cộ từ xứ Ê-díp-tô về cho con nhỏ và vợ mình, cùng dời cha các ngươi xuống đây.
19Ай порункэ сэ ле спуй: ‘Аша сэ фачець! Луаци-вэ дин цара Еӂиптулуй каре пентру прунчий воштри ши пентру невестеле воастре; адучець пе татэл востру ши вениць.
20Đừng tiếc tài vật mình, vì vật tốt nhất của xứ Ê-díp-tô sẽ về phần các ngươi.
20Сэ ну вэ парэ рэу де чея че вець лэса, кэч тот че есте май бун ын цара Еӂиптулуй ва фи пентру вой.’”
21Các con trai của Y-sơ-ra-ên làm y như lời; Giô-sép vâng mạng Pha-ra-ôn, đưa những xe cộ cho anh em mình và lương thực dùng trong lúc đi đường.
21Фиий луй Исраел ау фэкут аша. Иосиф ле-а дат каре, дупэ порунка луй Фараон; ле-а дат ши меринде пентру друм.
22Người cũng đưa áo xống mặc đổi thay cho mỗi người, còn Bên-gia-min, người cho trăm miếng bạc cùng năm bộ áo xống.
22Ле-а дат ла тоць хайне де скимб, яр луй Бениамин й-а дат трей суте де сикли де арӂинт ши чинч хайне де скимб.
23Người cũng sai đem về cho cha mình mười con lừa chở các vật quí nhất trong xứ Ê-díp-tô, mười con lừa cái chở lúa, bánh, và lương thực để dành dùng trong khi cha đi đường.
23Татэлуй сэу й-а тримис зече мэгарь ынкэркаць ку че ера май бун ын Еӂипт ши зече мэгэрице ынкэркате ку грыу, пыне ши меринде, пентру ка сэ айбэ пе друм.
24Vậy, Giô-sép đưa anh em mình lên đường. Lại dặn họ rằng: Xin anh em đừng cải lẫy nhau dọc đường.
24Апой а дат друмул фрацилор сэй, каре ау плекат, ши ле-а зис: „Сэ ну вэ чертаць пе друм.”
25Các anh em ở Ê-díp-tô trở lên và đến xứ Ca-na-an, nơi Gia-cốp, cha mình,
25Ей ау ешит дин Еӂипт ши ау ажунс ын цара Канаанулуй, ла татэл лор Иаков.
26thuật lại lời nầy mà rằng: Giô-sép hãy còn sống; lại ấy là người đang cai trị cả xứ Ê-díp-tô. Nhưng lòng Gia-cốp vẫn vô tình vì người không tin lời họ nói.
26Ши й-ау спус: „Иосиф тот май трэеште ши кяр ел кырмуеште тоатэ цара Еӂиптулуй.” Дар инима луй Иаков а рэмас рече, пентру кэ ну-й кредя.
27Anh em thuật lại cho người nghe hết mọi lời Giô-sép đã nói; Gia-cốp vừa thấy các xe cộ của Giô-sép sai đem về đặng rước mình, thì tâm thần người tỉnh lại,
27Кынд й-ау историсит ынсэ тот че ле спусесе Иосиф ши а вэзут кареле пе каре ле тримисесе Иосиф ка сэ-л дукэ, духул татэлуй лор Иаков с-а ынвиорат.
28bèn nói rằng: Thôi, biết rồi; Giô-sép, con trai ta, hãy còn sống; ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.
28Ши Исраел а зис: „Дестул! Фиул меу Иосиф тот май трэеште! Вряу сэ мэ дук сэ-л вэд ынаинте де моарте.”

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.