Xuất
Chapter 16
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng vắng Sin, nằm về giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i.
1Israel kaminawk boih, Elim ahmuen hoiah angthawk o moe, Elim hoi Sinai salakah kaom, Sin praezaek ah a caeh o; Izip prae hoi tacawthaih khrah hnetto haih ni hatlai pangato naah to ahmuen to a phak o.
2Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn tại nơi đồng vắng,
2Praezaek ah kaminawk boih mah Mosi hoi Aaron to laisaep o thuih.
3nói cùng hai người rằng: Oâi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói.
3Israel kaminawk mah nihnik khaeah, Izip prae ah moi thonghaih laom taengah anghnut moe, zok kamhah ah ka caak o naah, Angraeng ih ban hoi ka duek o nahaeloe hoih kue han to mah! Nanghnik mah haeah amkhueng kaminawk hae zok kamtlam ah dueksak hanah, hae praezaek ah na hoih hoi, tiah a naa o.
4Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ta sẽ từ trên trời cao làm mưa bánh xuống cho các ngươi. Dân sự sẽ đi ra, mỗi ngày nào thâu bánh đủ cho ngày nấy, đặng ta thử dân coi có đi theo luật lệ của ta hay chăng.
4To naah Angraeng mah Mosi khaeah, Khenah, nangcae han van hoiah takaw kho baktiah kang zohsak han; kaminawk to caeh o nasoe loe, nito caak kakhawt ah takaw to akhui o nasoe; ka paek ih lok tahngai o maw, tahngai o ai, tito hae tiah ka tanoek han.
5Qua ngày thứ sáu, dân sự sẽ dự bị phần đã góp, và sẽ được phần gấp bằng hai của mình thường thâu hằng ngày.
5Ni tarukto naah loe, ni kalah ah akhuih ih pongah kamtlai alet hnetto ah akhui o nasoe loe, suem o nasoe, tiah a naa.
6Môi-se và A-rôn bèn nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chiều nay các ngươi sẽ nhận biết rằng ấy là Đức Giê-hô-va đã rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
6To pongah Mosi hoi Aaron mah Israel kaminawk boih khaeah, Izip prae thung hoi nangcae zaehoikung loe Angraeng ni, tito vai duem ah na panoek o tih;
7và sáng mai sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Vả lại, chúng ta là ai mà các ngươi oán trách chúng ta?
7akhawnbang ah doeh Angraeng lensawkhaih to na hnu o tih; na laisaep o haih to Angraeng mah thaih boeh; kaihnik loe kawbang maw ka oh hoi moe, nang laisaep o thuih? tiah a naa hoi.
8Môi-se nói: Chiều nầy Đức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng về Đức Giê-hô-va vậy.
8Mosi mah, Angraeng mah caak han ih moi to duembang ah na paek o ueloe, akhawnbang ah zok amhah hanah takaw to na paek o tih; to naah, Na laisaep o haih lok Angraeng mah thaih boeh, tiah thuih ih lok to akoep tih; kaihnik loe kawbang maw ka oh hoi moe, nang laisaep o thuih? Laisaep kaminawk loe kaihnik laisaep thuih ai ah, Angraeng ni na laisaep o thuih, tiah a naa hoi.
9Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy nói cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời oán trách của các ngươi rồi.
9To naah Mosi mah Aaron khaeah, Na laisaep o haih lok to Angraeng mah thaih boeh pongah, anih khaeah angzo oh, tiah thuih pae han a naa.
10Vả, khi A-rôn nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, thì họ xây mặt về phía đồng vắng, thấy sự vinh quang của Ngài hiện ra trong đám mây.
10Aaron mah amkhueng Israel kaminawk boih khaeah lok to thuih pae, nihcae praezaek bangah doeng o naah, tamai nuiah Angraeng lensawkhaih to amtueng.
11Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
11Angraeng mah Mosi khaeah,
12Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy nói cùng chúng nó rằng: Lối chiều các ngươi sẽ ăn thịt; sáng mai sẽ ăn bánh no nê, và sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.
12Israel kaminawk laisaephaih lok to ka thaih boeh; nihcae khaeah, Duembang ah moi to na caa o ueloe, akhawnbang ah takaw to zok kamhah ah na caa o tih; to naah kai loe nangcae ih Angraeng Sithaw ah ka oh, tito na panoek o tih, tiah thui paeh, tiah a naa.
13Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên phủ trên trại quân; đến sáng mai lại có một lớp sương ở chung quanh trại quân.
13To na ni duembang ah kuikoemnawk loe nihcae ohhaih ahmuen taeng koimong ah angzoh o tahang; akhawnbang ah loe misatuh kaminawk ataihaih ahmuen taengah dantui to krak.
14Lớp sương đó tan đi, trên mặt đồng vắng thấy có vật chi nhỏ, tròn, như hột sương đóng trên mặt đất.
14Dantui anghmat pacoengah, khenah, praezaek ih long nui ah, dantui baktih kangbuet luet tetta kaom, hmuen to oh.
15Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy, bèn hỏi nhau rằng: Cái chi vậy? Vì chẳng biết vật đó là gì. Môi-se bèn nói cùng dân sự rằng: Aáy là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho các ngươi làm lương thực đó.
15To hmuen to Israel kaminawk mah hnuk o naah, hae loe manna maw? tiah maeto hoi maeto a thuih o. To hmuen loe timaw, tito panoek o ai. Mosi mah nihcae khaeah, Hae loe na caak o hanah Angraeng mah paek ih takaw ni.
16Nầy là lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn: Hãy tùy sức ăn của mỗi người, và tùy số người trong trại mà góp cho mỗi tên một ô-me.
16Angraeng mah, Kami boih mah caak kakhawt ah akhui oh; kahni im ah kaom a caanawk caak khawt ah, kami maeto mah omer maeto akhui o hanah a thuih pae.
17Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, kẻ thì lượm nhiều, người thì lượm ít,
17A thuih ih lok baktih toengah Israel kaminawk mah sak o; thoemto kaminawk loe kapop ah akhuih o, thoemto kaminawk mah loe zetta ah akhuih o.
18cứ lường từ ô-me; ai lượm nhiều chẳng được trội, ai lượm ít cũng chẳng thiếu; mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn.
18To tiah akhui o ih manna to omer hoi tah o naah, kapop ah akhui kami doeh amtlai ai; zetta akhui kami doeh vawt ai; kami boih mah caak khawt ah akhuih o.
19Môi-se nói cùng dân sự rằng: Đừng ai để dư lại cho đến sáng mai.
19To naah Mosi mah nihcae khaeah, Mi kawbaktih doeh akhawnbang khoek to amtlai o sak hmah, tiah a naa.
20Nhưng dân sự chẳng nghe theo lời Môi-se, một vài người để dư lại đến sáng mai; thì sâu hóa ở trong, vật sanh mùi hôi hám. Môi-se bèn nổi giận cùng họ.
20Toe thoemto kaminawk mah Mosi mah thuih ih lok to tahngai o ai; akhawnbang khoek to a suek o; toe qong moe, ahmui set pae; to pongah Mosi loe nihcae nuiah palungphui.
21Vậy, hằng buổi sớm mai mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra.
21Akhawnbang kruek kami boih mah angmacae caak khawt ah akhui o; ni bet naah loe, amkaw boih.
22Đến ngày thứ sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai; mỗi người hai ô-me. Các hội trưởng đến thuật lại cho Môi-se rõ.
22Ni tarukto naah loe kaminawk mah takaw baktiah alet hnetto kamtlai ah akhui o; kami maeto hanah omer hnetto akhuih o; rangpui ukkungnawk loe caeh o moe, to hmuen to Mosi khaeah thuih pae o.
23Người đáp rằng: Aáy là lời Đức Giê-hô-va đã phán rằng: Mai là ngày nghỉ, tức ngày Sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món chi các ngươi muốn nướng, hãy nấu món chi các ngươi muốn nấu; hễ còn dư, hãy để dành đến sáng mai.
23Mosi mah nihcae khaeah, Angraeng mah, khawnbang loe kaciim Angraeng anghakhaih ni, Sabbath ah oh, to pongah hmai paaem koi hmuen to hmai paaem oh ah loe, bueh koi to buet o coek ah; kamtlai to akhawnbang khoek to kahoih ah pakuem oh, tiah a thuih, tiah a naa.
24Dân sự bèn để dành cho đến sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền; vật đó chẳng sanh mùi hôi hám và cũng chẳng hóa sâu chút nào.
24To pongah Mosi mah thuih ih lok baktih toengah, akhawnbang caak hanah a suek o; toe hmuisae ai, qong doeh qong ai.
25Môi-se bèn nói rằng: Bữa nay hãy ăn đồ đó đi, vì là ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va; hôm nay các ngươi chẳng tìm thấy vật đó ở trong đồng đâu.
25Mosi mah nihcae khaeah, to takaw to vaihniah caa oh; vaihni loe Angraeng ih Sabbath ah oh pongah, to hmuen to long ah na hnu o mak ai.
26Các ngươi lượm trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ chẳng có đâu.
26Ni tarukto naah akhui oh loe patung oh; toe ni sarihto Sabbath niah loe maeto doeh na hnu o mak ai, tiah a naa.
27Ngày thứ bảy, một vài người trong vòng dân sự ra đặng lượm lấy, nhưng tìm chẳng thấy chi hết.
27Toe thoemto kaminawk loe akhuih han caeh o nganga; toe maeto doeh hnu o ai.
28Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào?
28To naah Angraeng mah Mosi khaeah, Nangcae mah nasetto maw kang paek o ih lok hoi kai ih kaalok to na aek o han vop?
29Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà.
29Angraeng mah Sabbath to ang paek o; to pongah ni tarukto ni ah ni hnetto caak hanah takaw to ang paek o; kami boih ni sarihto naah loe angmah ohhaih ahmuen ah om o boih nasoe loe, mi doeh a ohhaih ahmuen hoi tasa bangah tacawt hmah nasoe, tiah a naa.
30Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi.
30To pongah kaminawk loe ni sarihto naah anghak o.
31Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực nầy là ma-na; nó giống như hột ngò, sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong.
31Israel kaminawk mah to ih takaw to manna, tiah kawk o; to takaw loe coriander amu baktiah oh, anglung moe, khoitui hoi sak ih takaw baktiah luep.
32Môi-se nói rằng: Lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn như vầy: Hãy đổ đầy một ô-me ma-na, đặng lưu truyền trải các đời, hầu cho thiên hạ thấy thứ bánh ta đã cho các ngươi ăn nơi đồng vắng, khi ta rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
32Mosi mah Angraeng mah paek ih lok loe hae tiah oh; Izip prae thung hoiah kang zaeh o naah, praezaek ah kang pacah o ih takaw to angzo han koi na caanawk mah hnuk o thai hanah, manna to omer maeto kakoi ah suem oh, tiah a thuih, tiah a naa.
33Môi-se lại nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy một cái bình đựng đầy một ô-me ma-na, để trước mặt Đức Giê-hô-va, đặng lưu truyền các đời.
33To pongah Mosi mah Aaron khaeah, Boengloeng maeto la ah loe, to thungah manna omer maeto kakoi ah thaeng ah; na caanawk han pakuem pae hanah, Angraeng hmaa ah suem ah, tiah a naa.
34A-rôn bèn để bình đó trước sự chứng cớ, hầu cho được lưu truyền y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
34Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah pakuem hanah, hnukung hmaa ah Aaron mah thaengh.
35Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trải bốn mươi năm, cho đến khi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, là xứ có người ta ở.
35Anghakhaih prae pha o ai karoek to Israel kaminawk mah saning qui palito thung manna to caak o; Kanaan prae phak khoek to manna to a caak o.
36Vả, ô-me là một phần mười của ê-pha.
36Ephah hato thungah maeto loe omer maeto ah oh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.