Xuất 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
1Angraeng mah Mosi khaeah,
2Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên bất luận người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta.
2caa lu boih kai khaeah ciimcai o sak ah; Israel kaminawk ih zok thung hoi tapen tangsuek loe, kami doeh, moi doeh, kai ih ni, tiah a naa.
3Môi-se nói cùng dân sự rằng: Hãy kỷ niệm ngày nầy, vì là ngày Đức Giê-hô-va dùng tay quyền năng rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ; nên chớ ai ăn bánh có men.
3To naah Mosi mah kaminawk khaeah, Angraeng mah a ban thacakhaih hoiah to prae thung hoi ang zaeh o pongah, misong ah na oh o haih Izip prae thung hoi na tacawt o haih ni, hae ni hae pakuem o poe ah; taeh thuh ih takaw to caa o hmah.
4Ngày nay, nhằm tháng lúa trỗ, các ngươi ra đi.
4Vaihni Abib khrah thungah, na caeh o tih boeh.
5Vậy khi nào Đức Giê-hô-va đưa ngươi vào bờ cõi xứ dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít rồi, là một xứ đượm sữa và mật, và là xứ Ngài đã thề cùng tổ phụ sẽ ban cho ngươi, thì đến trong tháng nầy hãy giữ lễ thánh đó.
5Angraeng mah nangcae paek hanah nam panawk khaeah lokkam ih, tahnutui hoi khoitui longhaih Kanaan, Hit, Amor, Hiv hoi Jebus kaminawk ih prae thungah ang caeh o haih naah, hae khrah ah hae tiah toksak hanah pahnet o hmah.
6Trong bảy ngày hãy ăn bánh không men; đến ngày thứ bảy sẽ có lễ kính Đức Giê-hô-va.
6Ni sarihto thung taeh thuh ai ih takaw to caa oh loe, ni sarihto naah Angraeng khaeah hae poih hae sah oh.
7Phải ăn bánh không men trong bảy ngày; khắp cả địa hạt ngươi sẽ không thấy bánh có men, hoặc men tại nơi ngươi nữa.
7Ni sarihto thung taeh thuh ai ih takaw to caa oh; nangcae salakah taeh thuh ih takaw tidoeh suem o hmah; na oh o haih a taengah doeh taeh hoi sak ih takaw to amtueng o sak hmah.
8Trong ngày đó hãy giải nghĩa cho con trai ngươi rằng: Aáy vì việc Đức Giê-hô-va làm cho ta, khi ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
8To na niah na capa khaeah, Kaicae Izip prae thung hoi ka tacawt o naah, Angraeng mah tahmenhaih hoi kaicae nuiah hmuen to sak pongah, hae baktih hmuen hae ka sak o, tiah thui pae oh.
9Điều đó sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, làm một kỷ niệm ghi nơi trán ở giữa cặp mắt ngươi, hầu cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở nơi miệng ngươi, vì Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
9Hae hmuen loe nangcae ban ah angmathaih ah om tih, na mik salak ih lupataeh ah panoeksakkung ah om ueloe, na pakha ah Angraeng ih kaalok to om tih; Angraeng mah a thacakhaih rang hoiah Izip prae thung hoiah ang zaeh o.
10Hằng năm, đến k”, ngươi phải giữ lễ nầy.
10Saningto pacoeng saningto, hae tue phak khruek, hae sakzong ih atawk hae sah oh.
11Khi Đức Giê-hô-va đã đưa ngươi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, như Ngài đã thề cùng ngươi, và tổ phụ ngươi, khi Ngài đã ban xứ đó cho rồi,
11Angraeng mah nangcae hoi nam panawk khaeah sak ih lokkamhaih baktih toengah, Kanaan prae ah ang caeh o haih moe, prae ang paek o naah,
12thì hãy đem dâng cho Đức Giê-hô-va những con trưởng nam cùng cả con đầu lòng đực của súc vật ngươi, vì chúng nó đều sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va.
12zok thung hoi tapen tangsuek caa to Angraeng han pahoe oh; na tawnh ih tapen tangsuek moi doeh, ataenawk loe Angraeng ih ni.
13Nhưng mỗi con lừa đầu lòng, ngươi phải bắt chiên con hay là dê con mà chuộc; bằng không, ngươi hãy vặn cổ nó. Ngươi cũng chuộc mọi trưởng nam trong vòng con trai ngươi.
13Tapen tangsuek laa hrang to tuucaa hoiah akrang oh; akrang koeh o ai nahaeloe, laa hrang ih tahnong to khaek oh; na caanawk thungah caa lu to akrang oh.
14Vả, một mai con trai ngươi hỏi rằng: Điều đó có ý nghĩa chi? thì hãy đáp rằng: Aáy vì cớ Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là nhà nô lệ;
14Hmabang ah na caanawk mah, Hae hmuen loe tih thuih koehhaih ih maw? tiah na dueng o nahaeloe, Misong ah ohhaih Izip prae thung hoiah Angraeng mah a ban thacakhaih hoiah zaehhaih niah oh;
15và khi Pha-ra-ôn cứng lòng không tha chúng ta đi, Ngài bèn giết hết các con đầu lòng trong xứ đó, từ con trưởng nam người ta cho đến con đầu lòng súc vật. Vì cớ đó, ta dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va mọi con đực sanh đầu lòng, và ta chuộc con trưởng nam trong vòng con trai ta.
15Faro mah aicae tacawtsak han koeh ai naah, Angraeng mah Izip prae thung ih caa lu boih, tapen tangsuek moi to dueksak boih; to pongah zok thung hoi tapen tangsuek moi boih Angraeng khaeah ka paek moe, caalunawk to ka krang, tiah thui pae oh, tiah a naa.
16Aáy sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, và ấn chí nơi trán giữa cặp mắt ngươi, để nhắc cho nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
16Angraeng mah a ban thacakhaih rang hoiah Izip prae thung hoi zaeh pongah, hae loe na ban hoi na mik salak ih lupataeh ah, angmathaih ah om tih, tiah a naa.
17Vả, khi Pha-ra-ôn tha dân Y-sơ-ra-ên đi, Đức Chúa Trời không dẫn dân ấy đi theo đường về xứ Phi-li-tin, là đường gần hơn hết, vì Ngài nói rằng: E khi dân thấy trận mạc, dời lòng trở về xứ Ê-díp-tô chăng.
17Faro mah kaminawk caehsak naah, Philistin prae caehhaih loklam loe anghnaih kue, toe to loklam hoiah Angraeng mah nihcae to caeh haih ai; Angraeng mah kaminawk misatukhaih tongh o naah, poekhaih amkhraih o ueloe, Izip prae ah amlaem o let moeng tih, tiah thuih.
18Cho nên Đức Chúa Trời dẫn chúng đi vòng theo đường trong đồng vắng, về hướng Biển-dỏ. Dân Y-sơ-ra-ên cầm khí giới ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
18To pongah Sithaw mah kaminawk to tuipui kathim caehhaih praezaek loklam bang hoiah caeh haih lat; Israel kaminawk loe misatukhaih khukbuen angkhukhaih hoiah ni Izip prae thung hoiah tacawt o.
19Môi-se dời hài cốt Giô-sép theo mình, vì Giô-sép có bắt dân Y-sơ-ra-ên thề quyết rằng: Chắc Đức Chúa Trời sẽ viếng các ngươi; hãy dời hài cốt ta theo các ngươi khỏi đây.
19Joseph mah Israel caanawk khaeah, Nangcae abomh hanah Sithaw angzo tih; to naah kai ih ahuh to hae ahmuen hoiah la o let ah, tiah lokkam baktih toengah, Mosi mah Joseph ih ahuh to laksak.
20Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại Ê-tam, ở cuối đầu đồng vắng.
20Nihcae leo Sukkoth hoi caeh o moe, praezaek taeng, Etham vangpui ah atai o.
21Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm.
21Angraeng mah nihcae to khodai ah tamai hoiah zaeh moe, nihcae aanghaih paek hanah, khoving ah hmaithaw hoiah zaeh.
22Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy.
22Khodai naah tamai tung, khoving naah hmaithaw hoiah kaminawk to hmabang ah a caeh haih.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.