Am 5
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy, là bài ca thương mà ta sẽ làm về các ngươi!
1Aw Israel imthung takoh, nangcae qahhaih lok hoi misa haih lok hae tahngai oh:
2Gái đồng trinh của Y-sơ-ra-ên đã ngã xuống, sẽ không dậy nữa; nó đã bị ném bỏ trên đất nó, mà không ai đỡ dậy.
2nongpata kacuem Israel loe amtim boeh, anih loe natuek naah doeh angthawk let mak ai boeh. Anih loe prae thungah pahnawt sut ah oh boeh moe, anih pathawk han kami maeto doeh om ai.
3Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thành nào ra một ngàn quân, chỉ còn có một trăm; thành nào dấy lên một trăm người, chỉ còn có mười người trong nhà Y-sơ-ra-ên sót lại.
3Angraeng Sithaw mah, Vangpui hoiah kami sangto caeh o naah, kami cumvaito ni anghmat tih; Israel imthung takoh cumvaito caeh o naah, kami hato ni anghmat tih, tiah thuih.
4Đức Giê-hô-va phán cùng nhà Y-sơ-ra-ên như vầy: Hãy tìm kiếm ta, thì các ngươi sẽ sống!
4Israel imthung takoh khaeah Angraeng mah hae tiah thuih; kai hae pakrong ah loe, hing oh;
5Chớ tìm kiếm Bê-tên, chớ vào trong Ghinh-ganh, đừng đi đến Bê-e-Sê-ba. Vì Ghinh-ganh sẽ bị đày, Bê-tên sẽ trở nên một nơi đổ nát.
5Bethel to pakrong o hmah, Gilgal thungah akun o hmah, Beersheba ah caeh o hmah, Gilgal loe tamna ah om ueloe, Bethel loe atho tidoeh om mak ai boeh.
6Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va, thì các ngươi sẽ sống; bằng chẳng vậy, Ngài sẽ như một ngọn lửa thiêu đốt hừng lên trong nhà Giô-sép, ở Bê-tên không ai có thể tắt được.
6Angraeng to pakrong oh loe, hing oh, to tih ai nahaeloe Joseph ih imthung to hmai baktiah kangh ueloe, amro ving tih, Bethel ah hmai paduek han kami maeto doeh om mak ai.
7Các ngươi đổi sự ngay thẳng ra ngải cứu, và ném sự công bình xuống đất!
7Toenghaih to sethaih bangah paqoi ving moe, toenghaih to long ah va ving nangcae,
8Hãy tìm Đấng đã dựng nên những sao Rua và sao Cày; đổi bóng tối tăm ra ban mai, đổi ban ngày ra đêm thẳm, gọi nước biển mà đổ nó ra trên mặt đất: danh Ngài là Giê-hô-va.
8cakaeh sarihto hoi Orion sahkung, duekhaih tahlip to khodai ah paqoi moe, khodai to khoving ah sahkung to pakrong oh; tuipui tuinawk to palawk moe, long ah kraikung ih ahmin loe Angraeng, tiah oh.
9Aáy chính Ngài làm cho kẻ mạnh thình lình bị diệt vong, đến nỗi sự hủy hoại đến trên đồn lũy.
9Thacak kami amrosakkung hoi misa pakaahaih kaom vangpui amrosak thaih Sithaw to pakrong oh.
10Chúng nó ghét người trách móc nơi cửa thành, và gớm ghiếc kể nói ngay thẳng.
10Lokcaekhaih ahmuen ih thuitaekhaih to na hnukma o moe, loktang thui kami to na panuet o.
11Vì các ngươi hiếp đáp kẻ nghèo và đòi họ nộp thuế lúa mì, vậy nên những nhà bằng đá vuông nầy mà các ngươi đã xây nên, các ngươi sẽ không ở được. Các ngươi đã trồng những vườn nho ngon ngọt, nhưng sẽ không uống rượu nó.
11Amtang kami to na hnap o, anih ih cang to na lomh pae o moe, thlung im to na sak o, toe to im thungah na om o mak ai; misur takha thungah misurkung to na thling o, toe misurtui na nae o mak ai.
12Vì ta biết tội ác các ngươi nhiều là bao nhiêu, tội lỗi các ngươi lớn là bao nhiêu, các ngươi là kẻ hiếp đáp người công bình, nhận lấy của hối lộ, ở nơi cửa thành làm cong lẽ thẳng của những kẻ nghèo.
12Pop parai na sakpazaehaih hoi kalen parai na zaehaih to ka panoek; katoeng kaminawk to na pacaekthlaek o moe, bokhaih phoisa to na lak o; lokcaekhaih ahmuen ah amtang kaminawk to toenghaih thung hoiah nam khraeng o sak.
13Bởi đó cho nên, trong thời như thế, người khôn ngoan sẽ làm thinh; vì là thời khốn nạn.
13Kasae tue ah oh pongah, to atue ah palungha kaminawk loe om o duem tih.
14Hãy tìm điều lành và đừng tìm đều dữ, hầu cho các ngươi được sống, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ở cùng ngươi, như các ngươi nói vậy.
14Na hing thai hanah, kasae to pakrong hmah, kahoih to pakrong ah; na thuih o ih baktih toengah, misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw loe nangcae khaeah om tih.
15Hãy ghét điều dữ mà ưa điều lành; hãy lập sự công bình nơi cửa thành. Có lẽ Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ra ơn cho những kẻ còn sót lại của Giô-sép!
15Kasae to hnuma ah loe, kahoih to palung ah; lokthuihaih khongkha thungah kamsoem lok to thui poe ah, to tih nahaeloe misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw mah kanghmat Joseph kaminawk nuiah tahmenhaih tawn khoe doeh om tih.
16Vậy nên, Chúa Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, phán như vầy: Trong mọi nơi phố trợ, người ta sẽ than khóc; trong mọi đường phố, người ta sẽ kêu la rằng: Hỡi ôi! Hỡi ôi! Người ta sẽ mời kẻ cày ruộng đến thảm sầu, và những kẻ giỏi than van đến kêu khóc.
16To pongah misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw, Angraeng mah hae tiah thuih; Loklam kruekah qahhaih to om ueloe, lamkrungnawk boih ah, Ala! Ala! tiah palungnathaih hoi hanghaih to om tih. Qah hanah lawk phrawk kami to kawk o ueloe, qah hanah qah thaih kaminawk to pacae o tih.
17Trong các vườn nho vang tiếng khóc than, vì ta sẽ qua giữa ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Nangcae salakah ka caeh pongah, misur takha ohhaih ahmuen boih ah qahhaih to om tih, tiah Angraeng mah thuih.
18Khốn thay cho các ngươi là kẻ trông mong ngày của Đức Giê-hô-va! Các ngươi trông mong ngày của Đức Giê-hô-va làm gì? Aáy là ngày tối tăm, không phải là ngày ánh sáng.
18Angraeng ih ani koeh kami loe khosak bing! Tih hanah Angraeng ih ani to na koeh o? To ani loe ving tih, aanghaih to om mak ai.
19Ví như một người tránh khỏi sư tử, lại gặp con gấu; hay là như kẻ vào trong nhà, dựa tay trên vách, bị rắn cắn nhằm.
19Kami maeto mah kaipui to cawnhtaak, toe taqom maeto a tongh, to tih ai boeh loe angmah ih im ah a caeh moe, tapang nuiah ban a koeng naah, pahui mah patuk pae baktiah ni om tih.
20Ngày của Đức Giê-hô-va há chẳng phải tối tăm, không sáng láng, và mù mịt, không chói lói hay sao?
20Angraeng ih ani loe ving tih, aang mak ai; aanghaih kaom ai, kaving parai ani ah na ai maw oh?
21Ta ghét; ta khinh dể những k” lễ của các ngươi; ta không đẹp lòng về những hội trọng thể của các ngươi đâu.
21Nangcae poihsakhaih ninawk to ka hnukma, ka patoek, nangcae bokhaih hoi nam khueng o haih ahmuen ah ka thum thai mak ai.
22Dầu các ngươi dâng những của lễ thiêu và của lễ chay cho ta, ta sẽ không nhận lấy; ta chẳng đoái xem những con thú mập về của lễ thù ân các ngươi.
22Nangcae mah kai khaeah hmai angbawnhaih hoi cang paekhaih to nang sin o, toe ka talawk mak ai, angdaeh angbawnhaih ah kathawk moi nang sin o cadoeh, ka la mak ai.
23Hãy làm cho tiếng của bài hát các ngươi xa khỏi ta! Ta không khứng nghe tiếng đàn cầm của các ngươi.
23Laa na sak o haih loknawk to kalah bangah caeh o haih ving ah, nangcae ih kamding katoeng lok doeh ka tahngai mak ai.
24Thà hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước, và sự công bình như sông lớn cuồn cuộn.
24Toe toenghaih to tui baktiah long nasoe loe, katoeng poekhaih doeh kakaang thai ai vacong tui baktiah long nasoe.
25Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, các ngươi há chẳng từng dâng hi sinh và của lễ chay cho ta trong bốn mươi năm nơi đồng vắng sao?
25Aw Israel imthung takoh, praezaek ah saning qui palito thung kai khaeah angbawnhaih hoi hmuenpaekhaih to nang sin o maw?
26Trái lại, các ngươi đã khiêng nhà tạm của vua mình, khám của thần tượng mình, và ngôi sao của thần các ngươi mà các ngươi đã làm cho mình.
26Nangmacae ih sithaw Molok ih kahni im hoi nangmacae ih sithaw, nangmacae han na sak o ih Khi-un cakaeh krang to na ai maw kasang ah na pakoeh o.
27Vậy nên, ta sẽ làm cho các ngươi bị đày qua làm phu tù bên kia Đa-mách, Đức Giê-hô-va phán vậy, danh Ngài là Đức Chúa Trời vạn quân.
27To pongah nangcae loe Damaska yaeh ah tamna baktiah kang patoeh han, tiah misatuh kaminawk ih Sithaw, tiah ahmin kaom, Angraeng mah thuih.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.