I Tê 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi anh em, chính anh em biết rõ rằng chúng tôi đã đến nơi anh em, ấy chẳng phải là vô ích đâu;
1Nawkamyanawk, nangcae khaeah kang zoh o haih hae, azom na ai ni, tiah na panoek o:
2nhưng sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Phi-líp, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Đức Chúa Trời, cứ rao truyền đạo Tin Lành của Đức Chúa Trời cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến.
2na panoek o baktih toengah, kaicae loe Filipi ah ang pacaekthlaek o moe, azat kaom ah ang sak o, toe paroeai angaekhaih hoiah nangcae khaeah kahoih tamthanglok to Sithaw ah misahoihaih hoiah ka thuih o thaih.
3Vì sự giảng đạo của chúng tôi chẳng phải bởi sự sai lầm, hoặc ý không thanh sạch, cũng chẳng dùng điều gian dối.
3Kaicae loe sakpazaehaih, ciimcai ai ah toksakhaih hoi alinghaih hoiah nangcae to tha kang paek o ai:
4Nhưng vì Đức Chúa Trời đã xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Tin Lành, nên chúng tôi cứ nói, không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng chúng tôi.
4tamthanglok hoih pakuem hanah oepthok kami ah Sithaw mah tapom baktih toengah, kami koehhaih baktih na ai ah, Sithaw koehhaih baktiah ni ka thuih o.
5Vả, anh em có biết, chúng tôi không hề dùng những lời dua nịnh, cũng không hề bởi lòng tư lợi mà làm, có Đức Chúa Trời chứng cho.
5Na panoek o baktih toengah, kaicae loe amoekhaih lok ka thui o ai, kamthlai koeh hmoekhaih lok doeh ka thui o vai ai, tito Sithaw mah panoek:
6Dẫu rằng chúng tôi có thể bắt anh em tôn trọng chúng tôi, vì là sứ đồ của Đấng Christ, song cũng chẳng cầu vinh hiển đến từ loài người, hoặc từ nơi anh em, hoặc từ nơi kẻ khác.
6Kri mah patoeh ih kami ah ka oh o pongah, thoemto nangcae hanah loe hmuenzit ah doeh ka oh o thaih, toe kami pakoehhaih to ka pakrong o ai, nangcae mah pakoehhaih doeh ka pakrong o ai, kalah kaminawk mah pakoehhaih doeh ka pkrong o ai.
7Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy.
7Amno mah a caanawk pacah baktih toengah, nangcae salakah ka oh o naah, poeknaemhaih hoiah ni kho ka sak o:
8Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao.
8kang palung o parai pongah, Sithaw ih tamthanglok hoih thuih han ih khue na ai ah, nangcae palung kang nat o haih pongah, hinghaih paek han khoek to mataeng doeh ka koeh o.
9Hỡi anh em, anh em còn nhớ công lao, khó nhọc của chúng tôi; ấy là trong khi chúng tôi giảng Tin Lành cho anh em, lại cũng làm việc cả ngày lẫn đêm, để cho khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết.
9Nang panoek o baktih toengah, nawkamyanawk, kaicae loe angpho qawthaih hoiah ni tok ka sak o: nangcae raihaih paek han ai ah aqum athun tok ka sak o moe, nangcae khaeah kahoih Sithaw tamthanglok to kang thuih o.
10Anh em làm chứng, Đức Chúa Trời cũng làm chứng rằng cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được.
10Nang panoek o baktih toengah, nangcae tangcaanawk khaeah loe, coek koi kaom ai ciimhaih hoi toenghaih hoiah ni kho ka sak o, tito Sithaw mah doeh panoek:
11Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con,
11ampa mah a caanawk khaeah sak ih baktih toengah, nangcae boih khaeah kawbangmaw thapaekhaih hoi monghaih lok kang thuih o, tito na panoek o,
12khuyên lơn, yên ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến nước Ngài và sự vinh hiển Ngài.
12Siangpahrang ah a uk ih prae hoi lensawkhaih thungah nangcae kawkkung, Sithaw mikcuk naakrak ah kho na sak o thai hanah lok kang thuih o.
13Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin.
13Kaicae khae hoi Sithaw lok na thaih o naah, kaminawk ih lok baktiah na talawk o ai, loktang, Sithaw ih lok baktiah ni na talawk o, nangcae tangcaanawk salakah tok ka sak o pongah, Sithaw khaeah boeng ai ah anghoehaih lawk ka thuih o.
14Hỡi anh em, anh em thật đã trở nên người bắt chước các hội thánh của Đức Chúa Trời tại xứ Giu-đê, là các Hội thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ: anh em đã chịu khổ bởi người đồng xứ mình, cũng như chính các Hội Thánh ấy chịu khổ bởi người Giu-đa,
14Nawkamyanawk, nangcae loe Judah prae ah Kri Jesu to talawk moe, Sithaw hnukbang kricaabunawk mah, Judah kaminawk khae hoi pacaekthlaekhaih tongh o baktih toengah, nangcae doeh nangmacae kaminawk khae hoi ih pacaekthlaekhaih to na tongh o toeng:
15là người đã giết Đức Chúa Jêsus và các Đấng tiên tri, đã bắt bớ chúng tôi; làm trái ý Đức Chúa Trời và thù nghịch với mọi người nữa,
15Judahnawk mah Angraeng Jesu Kri hoi angmacae ih tahmaanawk to hum o, kaicae doeh ang pacaekthlaek o; nihcae mah Sithaw palung anghoe o sak thai ai, nihcae loe kami boih ih misa ah oh o:
16ngăn trở chúng tôi giảng dạy dân ngoại cho được cứu, lại hằng đầy dẫy cái lượng tội lỗi mình. Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sau hết đã đến trên họ.
16Gentelnawk mah pahlonghaih hnu o moeng tih, tiah a poek o pongah nihcae khaeah kahoih tamthanglok taphong hanah kaicae to ang pakaa o, to tiah angmacae zaehaih to koi o sak: to pongah hnukkhuem ah Sithaw palungphuihaih to nihcae nuiah krah tih.
17Hỡi anh em, về phần chúng tôi, đã xa cách anh em ít lâu nay, thân tuy cách nhưng lòng không cách, chúng tôi đã nôn nả biết bao, tìm phương để thỏa lòng ao ước, lại thấy mặt anh em.
17Toe nawkamyanawk, kaicae loe palung hoi na ai, taksa ah nangcae hoi nawnetta thung angthla ah ka oh o, nangcae kang poek o parai pongah, hnuk han kang koeh o parai boeh.
18Vì vậy, đã hai lần, chúng tôi, nhất là tôi, Phao-lô, muốn đi đến cùng anh em; nhưng quỉ Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi.
18To pongah nangcae khae angzoh han ka koeh o, kai, Pawl doeh nangcae khae angzoh pacoengah, angzoh let han ka koeh vop, toe Setan mah kaicae to pakaa ving.
19Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao?
19Aicae Angraeng Jesu Kri anghum naah angmah hmaa ah, nangcae ai ah loe mi maw ka oep o ih anghoehaih hoi anghoehaih sui lumuek ah kaom?
20Phải, anh em thật là sự vinh hiển và vui mừng của chúng tôi vậy.
20Nangcae loe kaicae lensawkhaih hoi anghoehaih ah na oh o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.