I Cô 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy.
1Kri hnukbang kami ah ka oh baktih toengah, nangcae doeh ka hnukah bang oh.
2Tôi khen anh em vì hay nhớ đến tôi trong mọi dịp, và lấy lòng trung tín mà giữ những điều tôi đã dạy dỗ anh em.
2Nawkamyanawk, hmuen boih ah kai nang panoek o poe moe, kang paek o ih patukhaihnawk na patawnh o poe thai pongah, kang pakoeh o.
3Dầu vậy, tôi muốn anh em biết Đấng Christ là đầu mọi người; người đờn ông là đầu người đờn bà; và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ.
3Toe nongpanawk boih ih lu loe Kri ni; nongpata ih lu loe nongpa ni; Kri ih lu loe Sithaw ni, tito na panoek o han ka koehhaih oh.
4Phàm người đờn ông cầu nguyện hoặc giảng đạo mà trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình.
4Lawkthuih naah maw, to tih ai boeh loe lok taphong naah maw, lu khuk nongpa loe angmah ih lu khingya ai kami ni.
5Nhưng phàm người đờn bà cầu nguyện hoặc giảng đạo mà không trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình: thật chẳng khác gì đã cạo đầu vậy.
5To tiah lawkthuih naah maw, to tih ai boeh loe lok taphong naah maw, lu khuk ai nongpata loe a lu khingya ai kami ah oh: lu angmuilum ah sam aah hoiah ni anghmong.
6Ví bằng người đờn bà không trùm đầu, thì cũng nên hớt tóc đi. Song nếu người đờn bà lấy sự hớt tóc hoặc cạo đầu làm xấu hổ, thì hãy trùm đầu lại.
6Lu khuk ai nongpata loe sam to aat ngala nasoe, toe sam to aah moe, lu angmuilum ah sam aah loe nongpata maeto hanah azat thoh parai tiah poek nahaeloe, lu to khuk nasoe.
7Vả, đờn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu; nhưng đờn bà là sự vinh hiển của đờn ông.
7Nongpa loe Sithaw ih krang hoi lensawkhaih ah oh pongah, lu khuk han om ai, nongpata loe nongpa lensawkhaih ah ni oh.
8Bởi chưng không phải đờn ông ra từ đờn bà, bèn là đờn bà ra từ đờn ông;
8Nongpa loe nongpata thung hoiah tacawt ai, toe nongpata loe nongpa thung hoiah ni tacawt.
9không phải đờn ông vì cớ đờn bà mà được dựng nên, bèn là đờn bà vì cớ đờn ông vậy.
9Nongpa loe nongpata han ih sah ai, toe nongpata loe nongpa han ih ni sak.
10Bởi đó, vì cớ các thiên sứ, đờn bà phải có dấu hiệu trên đầu chỉ về quyền phép mình nương cậy.
10To tiah oh pong khue na ai, van kaminawk pongah, nongpata loe a lu nuiah sak thaihaih tawnh, tito amtuengsak hanah, lu khuk han oh.
11Song trong Chúa thì chẳng phải đờn bà ngoại đờn ông, cũng chẳng phải đờn ông ngoại đờn bà;
11Toe Angraeng ah, nongpata loe nongpa ai ah om thai ai, nongpa doeh nongpata ai ah loe om thai ai.
12vì, như đờn bà đã ra từ đờn ông, thì đờn ông cũng sanh bởi đờn bà, và cả thảy đều ra bởi Đức Chúa Trời.
12Nongpata loe nongpa thung hoiah tacawt baktih toengah, nongpa doeh nongpata thung hoiah ni tacawt; toe hmuennawk boih loe Sithaw khae hoiah tacawt.
13Chính anh em hãy đoán xét điều nầy: đờn bà cầu nguyện Đức Chúa Trời mà không trùm đầu là hiệp lẽ chăng?
13To pongah nongpata mah lu khuk ai ah Sithaw khaeah lawkthuih loe khet amcuk maw? Tito poek o noek ah.
14Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đờn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?
14Sam patlung nongpa loe angmah hanah azat thoh, tito long khosakhaih dan mah panoekhaih na paek o ai maw?
15Nhưng, nếu đờn bà để tóc dài thì là lịch sự cho mình, vì đã ban tóc dài cho người, dường như khăn trùm vậy.
15Toe sam patlung nongpata loe angmah lensawkhaih ah oh: a lu khuk han ih ni kasawk sam to anih hanah paek.
16Bằng có ai muốn cãi lẽ, thì chúng tôi không có thói quen ấy, mà các Hội thánh Đức Chúa Trời cũng không có nữa.
16Toe lok angaek han koeh kami om nahaeloe, kaicae loe to baktih khosakhaih atawk ka tawn o ai, Sithaw kricaabunawk mah doeh tawn o ai, tiah thuih han ka koeh.
17Trong khi tôi truyền lời cáo dụ nầy, chẳng phải khen anh em, vì sự nhóm lại của anh em không làm cho mình hay hơn mà làm cho mình dở hơn.
17Nangcae nwnto nam khueng o naah hoih kuehaih om ai, set aephaih ni oh lat, to pongah hae thuitaekhaih lok kang paek o naah, nangcae to ka pakoeh thai ai.
18Trước hết, tôi nghe rằng khi anh em có sự nhóm họp Hội thánh, thì sanh ra sự phân rẽ; tôi cũng hơi tin điều đó.
18Hmaloe koekah, bokhaih im ah nawnto nam khueng o naah, nangcae thungah abu ampraekhaih oh ti, tiah ka thaih; to lok loe tangtang mue, tiah ka poek.
19Vì chắc trong vòng anh em phải có bè đảng, hầu cho được nhận biết trong anh em những kẻ nào thật là trung thành.
19Nangcae salakah Sithaw mah tapom ih kami to amtueng thai hanah, maeto hoi maeto lok angaekhaih loe kaom han ih hmuen roe ni.
20Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;
20To pongah ahmuen maeto ah nawnto nam khueng o naah, Angraeng ih buhcaak hanah nam khueng o ai.
21bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ.
21Duembuh na caak o naah, kami boih mah minawk pha ai naah angmah hanah buh to lak moe a caak o: kami maeto zok amthlam naah, kalah maeto loe mu paquih boeh.
22Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Đức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.
22Caak naekhaih im na tawn o ai maw? To tih ai boeh loe Sithaw kricaabu to na patoek o moe, tidoeh tawn ai kaminawk to azat na paw o sak maw? Nangcae khaeah timaw ka thuih han? Hae hmuen pongah kang pakoeh o han maw? Kang pakoeh o thai mak ai.
23Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Đức Chúa Jêsus, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh,
23Kang thuih o ih lok loe Sithaw khae hoi ka hnuk ih lok ni, Angraeng Jesu mah Anih angphat taakhaih duembangah takaw to lak;
24tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta.
24kawnhaih lawk a thuih pacoengah, takaw to a aeh moe, Hae takaw loe nangcae han kamro ka taksa ni, La ah loe caa oh: Kai nang panoek o poe hanah hae tiah sah oh, tiah a naa.
25Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.
25Takaw caak pacoengah, Anih mah boengloeng doeh lak moe, Hae loe ka thii hoiah sak ih lokmaihaih kangtha ah oh: na naek o naah, Kai nang panoek o poe hanah, hae tiah sah oh, tiah a naa.
26Aáy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.
26Hae takaw na caak o moe, hae boengloeng na naek o kruek, Anih angzoh karoek to, Angraeng duekhaih kawng taphong kami ah ni na oh o.
27Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.
27To pongah mi kawbaktih doeh caak han krah ai ah hae Angraeng ih takaw hae caa moe, naek han krah ai ah hae boengloeng hae nae kami loe, Angraeng ih takpum hoi athii zae haih kami ah om tih.
28Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy;
28To pongah mi kawbaktih doeh angmah hoi angmah angcaek pacoengah, to takaw to caa nasoe loe, boengloeng to nae nasoe.
29vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình.
29Kamcuk ai ah caa moe, nae kami loe, Angraeng ih takpum panoekhaih tawn ai pongah, angmah hoi angmah lokcaek han ih ni a caak moe, a naek.
30Aáy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.
30To tiah oh pongah ni nangcae salakah kaom paroeai kaminawk nuiah thazokhaih hoi ngannathaih to oh moe, pop parai kaminawk to duek o.
31Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.
31Aimacae hoi aimacae kahoihah angcaek o nahaeloe, lokcaekhaih om mak ai.
32Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian.
32Toe aicae mah lokcaekhaih a tongh o naah, long kaminawk hoi nawnto lokcaekhaih a tongh o han ai ah, Angraeng mah thuitaekhaih to a zok o.
33Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em hội lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.
33To pongah, nawkamyanawk, caak han nawnto nam khueng o naah, maeto hoi maeto ang zing oh.
34Ví bằng có ai đói, hãy ăn tại nhà mình, hầu cho anh em không nhóm lại để mà chuốc lấy sự đoán xét. Còn các việc khác, lúc tôi đến sẽ đoán định.
34Mi kawbaktih doeh zok amthlam nahaeloe, angmah im ah caa nasoe; to tih ai nahaeloe nawnto nam khueng o naah lokcaekhaih na tong o lat moeng tih. Kalah hmuennawk loe kang zoh naah karaemah ka sak han hmang.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.