Na Helu 13
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1OLELO mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2E hoouna aku oe i na kanaka e makaikai ai i ka aina o Kanaana, kahi a'u e haawi aku nei i na mamo a Iseraela: i hookahi kanaka o kela ohana a o keia ohana a na kupuna o lakou ka oukou e hoouna aku ai, he mau luna kela mea keia mea iwaena o lakou.
2Hãy sai những người đi do thám xứ Ca-na-an, là xứ ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Về mỗi một chi phái, các ngươi phải sai một người đi; mỗi người làm quan trưởng của chi phái mình.
3A ma ke kauoha a Iehova i hoouna aku ai o Mose ia lakou, mai ka waonahele o Parana aku: a o ia mau kanaka a pau, he mau luna lakou no na mamo a Iseraela.
3Tùy theo mạng Đức Giê-hô-va, Môi-se từ đồng vắng Pha-ran sai các người nầy đi; hết thảy là quan trưởng của dân Y-sơ-ra-ên.
4Eia na inoa o lakou: no ka ohana o Reubena, o Samua ke keiki a Zakura.
4Đây là tên của các người ấy: Về chi phái Ru-bên, Sam-mua, con trai Xa-cu;
5No ka ohana a Simeona, o Sapata ke keiki a Hori.
5về chi phái Si-mê-ôn, Sa-phát, con trai của Hô-ri;
6No ka ohana a Iuda, o Kaleba ke keiki a Iepune.
6về chi phái Giu-đa, Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê;
7No ka ohana a Isakara, o Igala ke keiki a Iosepa.
7về chi phái Y-sa-ca, Di-ganh, con trai của Giô-sép;
8No ka ohana a Eperaima, o Hosea ke keiki a Nuna.
8về chi phái Eùp-ra-im, Hô-sê, con trai của Nun;
9No ka ohana a Beniamina, o Paleti ke keiki a Rapu.
9về chi phái Bên-gia-min, Phan-thi, con trai của Ra-phu;
10No ka ohana a Zebuluna, o Gadiela ke keiki a Sodi.
10về chi phái Sa-bu-lôn, Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi;
11No ka ohana a Iosepa, ka ohana a Manase, o Gadi ke keiki a, Susi.
11về chi phái Giô-sép, nghĩa là về chi phái Ma-na-se, Ga-đi, con trai của Su-si;
12No ka ohana a Dana, o Amiela ke keiki a Gemali.
12về chi phái Đan, A-mi-ên, con trai của Ghê-ma-li;
13No ka ohana a Asera, o Setiela ke keiki a Mikaela.
13về chi phái A-se, Sê-thu, con trai của Mi-ca-ên;
14No ka ohana a Napetali, o Nabi ke keiki a Vopesi.
14về chi phái Nép-ta-li, Nách-bi, con trai của Vấp-si;
15No ka ohana a Gada, o Geuela ke keiki a Maki.
15về chi phái Gát, Gu-ên, con trai của Ma-ki.
16Oia na inoa o na kanaka a Mose i hoouna aku ai e makaikai i ka aina. A kapa aku la o Mose ia Hosea ke keiki a Nuna, o Iosua.
16Đó là tên những người mà Môi-se sai đi do thám xứ. Vả, Môi-se đặt tên cho Hô-sê, con trai Nun, là Giô-suê.
17Hoouna aku la o Mose ia lakou e makaikai i ka aina o Kanaana, i aku la hoi ia lakou, E haele oukou ma keia aoao kukuluhema, a e pii iluna i ka mauna.
17Vậy, Môi-se sai đi do thám xứ Ca-na-an, và dặn rằng: Từ đây hãy lên Nam phương, và vào miền núi;
18E nana i ke ano o ka aina, a me na kanaka e noho ana ilaila, he ikaika paha lakou, he nawaliwali paha; he hapa paha lakou, he nui loa paha;
18rồi sẽ thấy xứ ra sao, dân sự ở đó nếu mạnh yếu thể nào, nếu số ít hay nhiều;
19Me ka aina hoi a lakou e noho la, he maikai paha, he ino paha; a me na kulanakauhale a lakou e noho la, ma na halelewa paha, ma na pakaua paha;
19xứ dân đó ở thế nào, nếu tốt hay xấu; các thành dân đó ở làm sao, hoặc chỉ những nơi đóng trại hay là đồn lũy;
20A me ke ano o ka aina, he momona paha, he wi paha; he laau paha ilaila, aole paha: i nui hoi ka ikaika o oukou, a e lawe mai i kekahi hua o ka aina. O ka manawa ia o ka huawaina pala mua.
20đất ra làm sao, nếu màu mỡ hay là xấu, có cây cối hay là không. Hãy can đảm và hái lấy trái cây xứ đó. Bấy giờ nhằm mùa nho sớm.
21Pii aku la lakou a makaikai ae la i ka aina, mai ka waonahele o Zina a hiki aku i Rehoba, ma ke ala e hele aku ai i Hamata.
21Vậy các người đó đi lên do thám xứ, từ đồng vắng Xin cho đến Rê-hốp, đi về Ha-mát.
22A pii aku la lakou ma ke kukulu hema, a hiki aku i Heberona, i kahi o Ahimana, o Sesai a me Talemai, na keiki a Anaka. (Ua hookumuia o Heberona ehiku makahiki mamua o Zoana i Aigupita.)
22Họ bắt từ hướng Nam đi lên, đến thành Hếp-rôn, là nơi có A-hi-man, Sê-sai và Tanh-mai, con cái của A-nác. Vả, thành Hếp-rôn đã xây từ bảy năm trước Xô-an, là thành của xứ Ê-díp-tô.
23A hele aku lakou i ke kahawai i Esekola, a old iho la i kekahi lala me ka huiwaina hookahi, a amo mai la maluna o ka mamaka mawaena o na kanaka elua, O na pomeraite kekahi a me na fiku.
23Các người đến khe Eách-côn, cắt tại đó một nhành nho có một chùm nho; và hai người khiêng lấy bằng cây sào, luôn những trái lựu và trái vả.
24Ua kapaia ia wahi ke kahawai o I Esekola, no ka huiwaina a na mamo a Iseraela i oki ai malaila.
24Người ta gọi chỗ nầy là khe Eách-côn, vì có chùm nho mà dân Y-sơ-ra-ên đã cắt tại đó.
25A hala na la he kanaha o ka makaikai ana i ka ama, hoi mai la lakou.
25Các người đi do thám xứ trong bốn mươi ngày trở về.
26Hele mai la lakou a hiki io Mose la a me Aarona, a me ke anaina kanaka a pau o na mamo a Iseraela, i ka waonahele o Parana, i Kadesa; a hoakaka mai la lakou ia laua, a i ke anaina kanaka a pau, a hoike mai la i ka hua o ka aina.
26Tới rồi, bèn đến cùng Môi-se, A-rôn và cả hội dân Y-sơ-ra-ên, trong đồng vắng Pha-ran, tại Ca-đe, mà thuật lại mọi sự cho hai người và cả hội chúng nghe, cùng đưa cho xem hoa quả của xứ.
27Olelo mai la lakou ia ia, i mai la, Ua hele aku makou i ka aina au i hoouna aku ai ia makou, a he oiaio no e kahe ana ka waiu a me ka meli ilaila; eia hoi ka hua o ia wahi.
27Vậy, các người ấy thuật cho Môi-se rằng: Chúng tôi đi đến xứ mà người đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ đượm sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây.
28Aka, ua ikaika na kanaka e noho ana ma ia aina; a na paa i na papohaku na kulanakauhale, a nui loa: eia hoi kekahi, ua ike makou i na keiki a Anaka malaila.
28Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn; chúng tôi cũng có thấy con cái của A-nác ở đó.
29E noho ana ka Ameleka ma ka aina kukuluhema; o ka Heta, me ka Iebusa, a me ka Amora, ua noho lakou ma na mauna; a ua noho ko Kanaana ma ka moana a ma kapa o Ioredane.
29Dân A-ma-léc ở miền Nam, dân Hê-tít, dân Giê-bu-sít và dân A-mô-rít ở trong núi; dân Ca-na-an ở gần biển và dọc dài theo mé Giô-đanh.
30Hoomalielie iho o Kaleba i kanaka imua o Mose, i mai la, E hele koke aku kakou, a e komo i ka aina; no ka mea, e hiki pono no ia kakou ke lanakila maluna ona.
30Ca-lép bèn làm cho dân sự, đang lằm bằm cùng Môi-se nín lặng đi, mà nói rằng: Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta thắng hơn được.
31Aka, i mai la na kanaka i hele pu me ia, Aole e hiki ia kakou ke hele ku e i ua poe kanaka la; no ka mea, ua oi aku ko lakou ikaika i ko kakou.
31Nhưng những người đi cùng Ca-lép nói rằng: Chúng ta không đi lên cự dân nầy được, vì chúng nó mạnh hơn chúng ta.
32A lawe mai la lakou i ka olelo hoino i ka aina a lakou i makaikai aku ai i na mamo a Iseraela, i mai la, O ka aina kahi a makou i kaahele ai e makaikai aku, he aina ia e hoopau ana i na kanaka e noho ana malaila: a o na kanaka a pau a makou i ike ai malaila, he poe kanaka nunui.
32Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, các người đó phao phản xứ mình đã do thám mà rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân sự mình; hết thảy những người chúng tôi đã thấy tại đó, đều là kẻ hình vóc cao lớn.
33Malaila makou i ike ai i na kanaka nunui, i na keiki a Anaka, na ka poe kanaka nunui mai: ua like makou me na uhini i ko makou maka, a pela hoi makou imua o ko lakou maka.
33Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của A-nác, thuộc về giống giềnh giàng; chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.