Oihanakahuna
Chapter 24
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1OLELO mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2E kauoha oe i na mamo a Iseraela, e lawe mai ia oe i ka aila oliva maemae i kuiia, i malamalama, e mau ai ka aa ana o na ipukukui.
2Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem dầu ô-li-ve ép, trong sạch, đặng thắp đèn, để giữ cho đèn cháy luôn luôn.
3Mawaho o ka paku o ka mea hoike, iloko o ka halelewa o ke anaina, e hooponopono mau ai o Aarona ia mai ke ahiahi a kakahiaka ma ke alo o Iehova; he kanawai mau ia i ko oukou mau hanauna.
3A-rôn sẽ làm đèn đó trong hội mạc, ngoài bức màn che hòm bảng chứng, hầu cho đèn cháy luôn luôn, từ chiều tối đến sáng mai, trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi.
4E hooponopono mau oia i na kukui maluna o ka ipukukui maemae imua o Iehova.
4A-rôn sẽ để các đèn trên chân đèn bằng vàng, cho đèn cháy luôn luôn trước mặt Đức Giê-hô-va.
5A e lawe oe i ka palaoa wali, a e hoomoa i na popo ona he umikumamalua; elua hapaumi dila iloko o ka popo hookahi.
5Ngươi cũng phải lấy bột lọc, hấp mười hai ổ bánh; mỗi ổ cân nặng hai phần mười ê-pha;
6A e hoonoho oe ia mau mea ma na lalani elua, eono i ka lalani hookahi, maluna o ka papa maemae, ma ke alo o Iehova.
6đoạn sắp ra hai hàng sáu ổ trên cái bàn bằng vàng ròng trước mặt Đức Giê-hô-va,
7A e kau aku oe i ka mea ala maemae maluna o na lalani, i kau ia maluna o ka berena i mea hoomanao, he mohai puhi no Iehova.
7cùng rắc nhũ hương thánh trên mỗi hàng, để làm kỷ niệm trên bánh, như một của lễ dùng lửa dâng trước mặt Đức Giê-hô-va.
8I kela Sabati keia Sabati e hoonoho mau ai oia ia mea ma ke alo o Iehova, na na mamo mai a Iseraela, ma ka berita mau loa.
8Mỗi ngày sa-bát, người ta sẽ sắp bánh nầy trước mặt Đức Giê-hô-va luôn luôn, do nơi dân Y-sơ-ra-ên cung cấp; ấy là một giao ước đời đời.
9E lilo hoi ia na Aarona a na kana mau keiki, a e ai lakou ia ma kahi hoano; no ka mea, he hoano loa ia nona, no na mohai puhi no Iehova ma ke kanawai mau loa.
9Các bánh đó sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người; họ phải ăn tại một nơi thánh, vì là vật chí thánh cho họ, bởi các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Aáy là một lệ định đời đời.
10A o ke keiki a ka wahine o ka Iseraela, he kanaka Aigupita kona makuakane, ua hele ae ia iwaena o na mamo a Iseraela: a o keia keiki a ka Iseraela, a me kekahi kanaka Iseraela, ua hakaka pu i kahi hoomoana;
10Có một đứa con trai, mẹ là người Y-sơ-ra-ên, và cha là người Ê-díp-tô, đi ra giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên, đánh lộn tại nơi trại quân với một người Y-sơ-ra-ên.
11A ua hoino wale ke keiki a ka wahine Iseraela, i ka Inoa, a ua kuamuamu hoi; a lawe mai lakou ia ia io Mose la: (o Selomita ka inoa o kona makuwahine, ke kaikamahine a Diberi, no ka ohana a Dana:)
11Đứa trai đó nói phạm đến và rủa sả danh Đức Giê-hô-va; người ta dẫn nó đến Môi-se, bèn giam nó vào ngục cho đến chừng Đức Giê-hô-va phán định phải xử làm sao.
12Hahao ae la lakou ia ia i kahi e paa ai, i hoikeia mai ka manao o Iehova ia lakou.
12Mẹ nó tên là Sê-lô-mít, con gái của Điệp-ri, thuộc về chi phái Đan.
13Olelo mai la hoi o Iehova ia Mose, i mai la,
13Vả, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
14E lawe ae i ka mea kuamuamu mawaho ae o kahi hoomoana; a o ka poe a pau i lohe, e kau ko lakou mau lima maluna o kona poo, a e hailuku ke anaina a pau ia ia.
14Hãy đem kẻ đã rủa sả ra ngoài trại quân, hết thảy ai đã có nghe nó phải đặt tay mình trên đầu nó, và cả hội chúng phải ném đá nó.
15E olelo hoi oe i na mamo a Iseraela, penei, O kela kanaka keia kanaka i kuamuamu i kona Akua, e kau no kona hewa maluna ona iho.
15Đoạn hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào rủa sả Đức Chúa Trời mình sẽ mang sự hình phạt của tội mình.
16A o ka mea hoino wale i ka ihoa o Iehova, e make io no ia; e hailuku io aku ke anaina a pau ia ia; o ka malihini, e like pu me ke kamaaina, i ka wa e hoino ai i ka Inoa, e make no ia.
16Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.
17A o ka mea pepehi i ke kanaka, e make io no ia.
17Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.
18A o ka mea pepehi i ka holoholona, e hoihoi aku no oia i holoholona no ka holoholona.
18Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.
19Ina haawi ke kanaka i kona hoalauna i kina iloko o kona kino, e like me kana hana ana aku, pela no e hanaia mai ai ia;
19Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đã làm:
20He eha no ka eha, he maka no ka maka, he niho no ka niho: me kana i haawi ai i ke kanaka i kina iloko ona, pela no e hanaia'e ai ia.
20gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít như chính người đã làm cho người khác.
21O ka mea pepehi i ka holoholona, e hoihoi no oia ia; a o ka mea pepehi i ke kanaka, e make ia.
21Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.
22I hookahi kanawai ko oukou no ka malihini, a no ka mea o ko oukou aina iho; no ka mea, owau no Iehova ko oukou Akua.
22Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lễ: vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
23Olelo ae la o Mose i na mamo a Iseraela, e lawe ae i ka mea kuarauamu iwaho o kahi hoomoana, a e hailuku aku ia ia me na pohaku; hana iho la ua mamo a Iseraela e like me ke kauoha a Iehova ia Mose.
23Vậy, Môi-se nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên, biểu đem kẻ đã rủa sả ra khỏi trại quân rồi ném đá nó. Thế thì, dân Y-sơ-ra-ên làm y như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn Môi-se.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.