Oihanakahuna
Chapter 5
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A INA e lawehala kekahi uhane, a lohe oia i leo o ka hoohiki ana, a he mea hoike ia, a ua ike paha, ua lohe paha, aole ia e hai, alaila, maluna ona kona hewa.
1Khi người nào làm chứng bị bắt thề rồi, và phạm tội vì không tỏ ra điều mình đã thấy hay là đã biết, thì người đó sẽ mang tội mình.
2A ina e hoopa aku kekahi i ka mea haumia, ina he kupapau o ka holoholona hihiu haumia, a ina he kupapau o na holoholona laka haumia, a ina he kinomake o na mea kolo, a i nalo ia ia; e haumia no hoi ia, a hewa.
2Khi ai sẽ đụng đến một vật ô uế, hoặc thây của con thú nhà không tinh sạch, hoặc thây của con thú rừng không tinh sạch, hoặc thây của loài côn trùng nào không tinh sạch, mà không tự biết, thì sẽ bị ô uế và mắc tội.
3A ina e hoopa aku oia i ka haumia o ke kanaka, i kela haumia a i keia i haumia ai ia, a i nalo ia ia; aia ike oia, alaila hewa ia.
3Khi ai, hoặc tự biết hay không biết, sẽ đụng đến sự ô uế nào của loài người, không cứ bị ô uế cách nào, thì cũng sẽ mắc tội.
4A ina e hoohiki kekahi e olelo walewale ana me kona lehelehe e hana hewa paha, a e hana pono paha, o ka mea a ke kanaka i olelo ai me ka hoohiki i ke Akua, a nalo ia ia ia; a loaa ia ia, a ua hewa ia i kekahi o ia mau mea.
4Khi ai nói sơ ý thề thốt làm ác hay là làm thiện, mặc dầu cách nào, trước không ngờ đến, rồi sau lại tự biết, thì ai đó sẽ mắc tội trong điều nầy hay là điều kia.
5A penei keia, i ka wa e hewa ai ia i kekahi o ia mau mea, alaila e hai mai ia, ua hana hewa oia ia mea.
5Vậy, khi nào ai mắc tội về một trong các điều nầy, thì phải xưng mình phạm tội chi,
6A e lawe mai oia i kana mohaihala ia Iehova no kona hewa ana i hana'i, he wahine no ka ohana, he keikihipa, a i ole ia, he keikikao, i mohaihala; a e hana ke kahuna i ke kalahala nona no kona hewa.
6rồi vì tội mình đã phạm, dẫn đến Đức Giê-hô-va một con cái trong bầy súc vật nhỏ, hoặc chiên cái hay là dê cái, đặng làm của lễ chuộc tội; thì thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người.
7A ina aole e hiki i kona lima ke lawe mai i ke keiki holoholona, alaila e lawe mai oia no kona hewa ana i hana'i, i elua mau kuhukuku, a i ole ia, elua manu nunu opiopio ia Iehova, i kekahi i mohailawehala, a i kekahi hoi i mohaikuni.
7Nếu không phương thế lo cho có một chiên cái hay là một dê cái được, thì phải vì tội mình đã phạm, đem đến cho Đức Giê-hô-va một cặp cu hay là cặp bồ câu con: một con dùng làm của lễ chuộc tội, một con dùng làm của lễ thiêu.
8A e lawe mai oia ia mau mea i ke kahuna, a e alana mua oia i ka mea mohailawehala, a e niki oia i kona poo mai kona a-i, aole hoi e mahele a kaawale.
8Người sẽ đem cặp đó đến cho thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ dâng trước con dùng làm của lễ chuộc tội, vặn rứt đầu gần nơi gáy cổ không gãy lìa ra;
9A e pipi ae oia i kauwahi o ke koko o ka mohailawehala ma ka aoao o ke kuahu; a e uwiia'e ke koena o ke koko malalo o ke kuahu: he mohailawehala ia.
9đoạn rảy huyết của con sinh tế chuộc tội trên một phía của bàn thờ; huyết còn dư lại thì vắt dưới chân bàn thờ; ấy là một của lễ chuộc tội.
10A e alana sku oia i ka Iua i mohaikuni mamuli o ke kanawai; ae hana ke kahuna i kalahala nona, no ka hewa ana i hana'i, a e kalaia uanei oia.
10Còn chim kia, người phải tùy theo lệ đã định, dùng làm một của lễ thiêu. Aáy vậy, thầy tế lễ sẽ vì người đó làm lễ chuộc tội người đã phạm, thì tội người sẽ được tha.
11A i ole e hiki i kona lima ke lawe mai i eloa manu kuhukuku, a i elua manu nunu opiopio paha, alaila, e lawe mai ka mea i hana hewa i mohai nons i ka hapaumi o ka epa palaoa wali i mohailawehala; aole e kau oia i ka aila maluna iho o ia mea, aole hoi ia e kau i ka libano ma ia mea, no ka mea, he mohailawehala ia.
11Nếu không phương thế lo cho có một cặp cu hay là cặp bồ câu con được, thì người vì tội mình đã phạm, phải đem một phần mười ê-pha bột lọc làm của lễ chuộc tội, không nên đổ dầu trên và cũng không nên thêm nhũ hương, vì là một của lễ chuộc tội.
12A e lawe mai oia ia mea i ke kahuna, a e lalau iho ke kahuna a piha kona lima ia mea i mea hoomanao nona, a e kuni iho ma ke kuahu, e like me na mohaipuhi ia Iehova; he mohailawehala ia.
12Người sẽ đem bột đó đến thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ bốc một nắm làm kỷ niệm. và xông trên bàn thờ như cách xông của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ chuộc tội.
13A e hana ke kahuna nona i kalahala no kona hewa ana i hana'i, ma kekahi o na mau mea la, a e kalaia nona; a e lilo ia na ke kahuna he mohaiai.
13Aáy vậy, thầy tế lễ sẽ vì người đó làm lễ chuộc tội người đã phạm về một trong mấy điều nầy, thì tội người sẽ được tha; bột còn dư lại sẽ thuộc về thầy tế lễ như trong cuộc của lễ chay vậy.
14Olelo mai la hoi o Iehova ia Mose, i mai la,
14Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
15Ina e hana kekahi i ka hewa, a lawehala no ka ike ole, ma na mea hoano o Iehova, alaila e lawe mai oia ia Iehova no kona hewa, i ka hipakane kina ole noloko mai o na ohana, me ka mea au i manao ai ma na sekela kala, mamuli o ke sekela o ke keenakapu, i mohaihala.
15Khi nào ai ở bất trung, lầm lỡ phạm đến vật thánh của Đức Giê-hô-va, thì ai đó vì sự mắc lỗi mình, phải dẫn đến Đức Giê-hô-va một con chiên đực không tì vít chi bắt ở trong bầy, đánh giá bằng siếc-lơ bạc, tùy theo siếc-lơ của đền thánh: ấy sẽ là một của lễ chuộc sự mắc lỗi.
16A e hooponopono oia no ka hewa ana i hana'i ma ka mea hoano, a e hui hou i ka hapa lima ona ilaila, a e haawi aku oia ia mea i ke kahuna; a e hoolilo ke kahuna i ka hipakane mohaihala i kalahala nona, a e kalaia no ia.
16Người đó phải bồi thường và phụ thêm một phần năm giá trị của vật mình đã phạm đến nơi đền thánh, rồi giao vật đó cho thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ dùng chiên con đực về của lễ chuộc sự mắc lỗi mà làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người sẽ được tha.
17A ina e lawehala kekahi, a e hana i kekahi o ia mau mea i papaia ma na kauoha a Iehova, aole hoi i ike, e hihia no ia, a e kau no ia ia kona hewa.
17Khi nào ai phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va mà không tự biết, và làm điều không nên làm, thì ai đó sẽ mắc lỗi và mang lấy tội mình.
18A e lawe mai oia i ka hipakane kina ole noloko mai o ka ohana, me ka mea au i manao ai, i ke kahuna i mohaihala; a e hana ke kahuna i kalahala nona, no kona ike ole i hewa ai a ike ole hoi, a e kalaia no ia.
18Người vì sự lỗi mình phải dẫn đến thầy tế lễ một con chiên đực, không tì vít chi bắt trong bầy, tùy theo ý ngươi đánh giá; rồi thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người đã lầm lỡ phạm tội và không tự biết, thì lỗi người sẽ được tha.
19He mohaihala no ia: ua lawehala io no ia i ka Iehova.
19Aáy là của lễ chuộc sự mắc lỗi: người hẳn phải mắc lỗi cùng Đức Giê-hô-va vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.