Lunakanawai 3
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1EIA na lahuikanaka a Iehova i waiho ai e hoao i ka Iseraela, i ka poe a pau i ike ole i ke kaua ana a pau ma Kanaana;
1Nầy là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va để còn lại, đặng dùng chúng nó thử thách người Y-sơ-ra-ên nào chưa từng thấy những chiến trận Ca-na-an.
2I mea wale no e ike ai na hanauna o na mamo a Iseraela, e ao aku ia lakou i ke kaua, i ka poe hoi i ike ole ia mea mamua;
2Ngài chỉ muốn thử thách các dòng dõi mới của dân Y-sơ-ra-ên, tập cho chúng nó việc chiến trận, nhất là những kẻ chưa từng thấy chiến trận khi trước.
3Elima alii o ko Pilisetia, a me ko Kanaana a pau, a me ko Zidona, a me ko Hevi i noho ma ka mauna o Lebanona, mai ka mauna mai o Baala-Heremona a hiki i Hamata.
3Các dân tộc nầy là dân Phi-li-tin cùng năm vua chúng nó, hết thảy dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở tại núi Li-ban, từ núi Ba-anh-Hẹt-môn cho đến cửa Ha-mát.
4He mea lakou e hoao ai i ka Iseraela, i ikeia ko lakou hoolohe a me ka ole i na kauoha a Iehova ana i kauoha mai ai i ko lakou poe makua, ma ka lima o Mose.
4Đức Giê-hô-va dùng các dân tộc nầy để thử thách Y-sơ-ra-ên, đặng xem thử chúng nó có ý vâng theo các điều răn mà Ngài cậy Môi-se truyền cho tổ phụ chúng nó chăng.
5Noho pu iho la no na mamo a Iseraela me ko Kanaana, a me ka Heta, a me ka Amora, a me ka Pereza, a me ka Hevi, a me ka Iebusi.
5Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên ở chung cùng dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít,
6A lawe no lakou i ka lakou kaikamahine, i wahine na lakou, a haawi no i ka lakou kaikamahine iho i na keikikane a kela poe kanaka; a malama no i ko lakou poe akua.
6cưới con gái của chúng nó làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng nó, và hầu việc các thần của chúng nó.
7Hana hewa iho la na mamo a Iseraela imua o Iehova, a hoopoina ae la ia Iehova, i ko lakou Akua, a malama aku la ia Baala a me Asetarota.
7Dân Y-sơ-ra-ên còn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cúng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra.
8Wela iho la ka huhu o Iehova i ka Iseraela, a hoolilo ae la oia ia lakou i ka lima o Kusanerisataima, ke alii o Mesopotamia, a hookauwa aku na mamo a Iseraela na Kusanerisataima, i ewalu makahiki
8Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng vào tay Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua nước Mê-sô-bô-ta-mi. Dân Y-sơ-ra-ên bị tám năm phục dịch vua Cu-san-Ri-sa-tha-im.
9A kahea aku la na mamo a Iseraela ia Iehova, alaila, hoala mai o Iehova i mea nana e hoola'e i na mamo a Iseraela, a hoola ae la oia ia lakou, o Oteniela, ke keiki a Kenaza, ke kaikaina o Kaleba.
9Kế ấy, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn dấy lên cho chúng nó một người giải cứu, là Oát-ni-ên, con trai của Kê-na, em thứ của Ca-lép, và người ấy giải cứu họ.
10Kau mai ka Uhane o Iehova maluna ona, a hooponopono ia i ka Iseraela, a hele aku la i ke kaua; a haawi mai la o Iehova ma kona lima, ia Kusanerisataima, ke alii o Mesopotamia. A lanakila ae la kona lima maluna o Kusanerisataima.
10Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người đoán xét Y-sơ-ra-ên, và đi ra chiến trận. Đức Giê-hô-va phó Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua A-ram, vào tay người, khiến cho người thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im.
11Kuapapanui iho la ka aina i hookahi kanaha makahiki; a make iho la o Oteniela, ke keiki a Kenaza.
11Xứ được hòa bình trong bốn mươi năm; kế đó, Oát-ni-ên, con trai Kê-na, qua đời.
12Hana hewa hou aku la na mamo a Iseraela imua o Iehova. A hooikaika mai la o Iehova ia Egelona i ke alii o Moaba, e ku e i ka Iseraela, no ka mea, ua hana hewa lakou imua o Iehova.
12Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va; nên Đức Giê-hô-va khiến Eùc-lôn, vua Mô-áp trở nên cường thạnh để hãm đánh Y-sơ-ra-ên.
13Hoakoakoa mai la oia io na la i na mamo a Amona, a me Amaleka, hele ae la, a luku aku la i ka Iseraela, a loaa ia ia ke kulanakauhale o na laau pama.
13Vậy, Eùc-lôn nhóm hiệp chung quanh mình dân Am-môn và dân A-ma-léc, kéo đi đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm lấy thành Cây chà là.
14Hookauwa aku ka poe mamo a Iseraela na Egelona, ke Alii o Moaba, i umikumamawalu makahiki.
14Dân Y-sơ-ra-ên bị phục dịch Eùc-lôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm.
15A i ka wa i kahea aku ai na mamo a Iseraela ia Iehova, alaila, hoala mai o Iehova i mea e hoopakele ae ia lakou, o Ehuda, ke keiki a Gera, he mamo na Beniamina, he kanaka lima hema: a ma kona lima i hoouna aku ai na mamo a Iseraela i makana no Egelona ke alii o Moaba.
15Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên cho chúng một đấng giải cứu, là Ê-hút, con trai Ghê-ra, thuộc về chi phái Bên-gia-min, là người có tật thuận tay tả. Dân Y-sơ-ra-ên sai người đem lễ cống cho Eùc-lôn, vua Mô-áp.
16Hana iho la o Ehuda i pahikaua oi lua nana, hookahi kubita ka loihi, a omau ae la ma kona uha akau, maloko o kona kapa.
16Ê-hút tự làm lấy một cây gươm hai lưỡi, dài một thước, và đeo theo trong mình áo nơi háng hữu.
17A lawe aku la ia i ka makana ia Egelona, i ke alii o Moaba. He kanaka konahua loa o Egelona.
17Vậy, người đem dâng lễ cống cho Eùc-lôn, vua Mô-áp, là một người rất mập.
18A pau ka haawi ana i ka makana, hoihoi aku la ia i ka poe kanaka i lawe i ka makana.
18Khi dâng lễ cống rồi, bèn cho những kẻ đã đem lễ vật đến đi về.
19Hoi hou aku la ia, mai na kii o Gilegala aku, i aku la, He olelo malu ka'u nau, e ke alii. I ae la kela, E noho malie. A o ka poe a pau e ku pu ana me ia, hele aku la lakou i waho.
19Nhưng chính người đến hầm lấy đá ở gần Ghinh-ganh, thì trở lại, nói rằng: Hỡi vua, tôi có một lời tâu kín cùng vua. Vua truyền: Hãy nín! Hết thảy những kẻ hầu cận vua bèn đi ra.
20Hele mai la o Ehuda io na la; e noho ana ia ma ke keena hooluolu maluna; nona wale no ia wahi I ae la o Ehuda ia ia, He mea ka'u ia oe, na ke Akua mai. Ku mai la oia, mai kona noho mai.
20Bấy giờ, vua đang ngồi một mình nơi lầu mát; Ê-hút đến gần mà nói rằng: Tôi có một lời của Đức Chúa Trời tâu lại với vua. Eùc-lôn vừa đứng dậy khỏi ngai;
21Hooholo iho la o Ehuda i kona lima hema, lalau iho la i ka pahi ma kona uha akau, a hou aku la iloko o kona opu.
21Ê-hút bèn giơ tay tả ra rút gươm đeo ở phía hữu, mà đâm người nơi bụng.
22Komo pu aku la ke au mahope a ka maka, a paa mai la ke konahua maluna o ka maka, aole i hiki ia ia ke unuhi i ka pahi mailoko mai o kona opu; a hu mai la ka lepo.
22Cán gươm cũng lút theo lưỡi, mỡ líp lại xung quanh lưỡi gươm; vì người không rút gươm ra khỏi bụng, nó thấu ra sau lưng.
23Alaila, hele aku la o Ehuda iwaho o ka lanai, a pani ae la i na puka o ke keena, a hoopaa iho la.
23Đoạn, Ê-hút lánh ra nơi hiên cửa, đóng các cửa lầu mát lại và gài chốt.
24A hala aku la ia iwaho, hele mai la na kauwa a Egelona, nana ae la, aia hoi, ua paa na puka o ke keena. I iho la lakou, Ke uhi wale nei oia i kona wawae maloko o ke keena hooluolu.
24Khi Ê-hút đi ra khỏi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa lầu mát đều đóng gài chốt, thì nói với nhau rằng: Hoặc vua đi ngơi trong lầu mát chăng.
25Kakali iho la lakou, a hilahila wale, aia hoi, aole ia i wehe mai i na puka o ke keena; a lawe lakou i ke ki, a wehe ae la, aia hoi, ua hina ko lakou haku ilalo i ka honua, ua make.
25Chúng đợi rất lâu, đến đỗi hổ thẹn; song vì không thấy vua mở cửa phòng, bèn lấy chìa khóa và mở: kìa thấy chúa mình đã chết, nằm sải trên đất.
26Pakele o Ehuda, i ko lakou kakali ana, a hele aku la, ma o aku o na kii, a hiki i Seirata.
26Trong khi chúng trì hoãn, Ê-hút đã trốn qua khỏi các hầm đá, lánh đến Sê-ri-a.
27A hiki aku la ia, puhi iho la ia i ka pu ma na mauna o Eperaima, a iho pu aku la na mamo a Iseraela me ia, mai ka mauna mai, a oia ma ko lakou alo.
27Người vừa đến, bèn thổi kèn lên trong núi Eùp-ra-im; dân Y-sơ-ra-ên đều cùng người xuống khỏi núi và chính người đi ở đầu hết.
28I aku la ia ia lakou, E hahai oukou mamuli o'u, no ka mea, ua haawi mai o Iehova i ko oukou poe enemi, i ka Moaba iloko o ko oukou lima. A hahai aku la lakou mamuli ona, a lilo ia lakou na ahua o Ioredane, e ku pono ana i Moaba, aole i ae aku i kekahi kanaka ke hele i kela aoao.
28Ê-hút nói cùng chúng rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó vào tay các ngươi dân Mô-áp, là kẻ thù nghịch các ngươi. Chúng đều theo người xuống chiếm cứ các chỗ cạn sông Giô-đanh, là đường đi đến Mô-áp, cấm không cho ai đi qua.
29Luku aku la lakou i ko Moaba ia manawa, i umi paha tausani kanaka, he poe puipui wale no, ua koa no lakou a pau; aole hookahi kanaka i pakele.
29Vậy, trong lúc đó dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chừng mười ngàn người Mô-áp, thảy đều là tay mạnh mẽ, can đảm, không một ai thoát khỏi được.
30Hoohaahaaia ko Moaba ia la maialo iho o ka lima o ka Iseraela. Kuapapanui iho la ka aina, i kanawalu makahiki.
30Trong ngày đó, dân Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên; xứ được hòa bình trong tám mươi năm.
31Mahope iho ona, ku mai o Samegara, ke keiki a Anata, nana i luku aku i eono haneri kanaka o ko Pilisetia i ke o bipi; a hoopakele ae la hoi oia i ka Iseraela.
31Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Người dùng một cây đót bò mà đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin, và cũng giải cứu Y-sơ-ra-ên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.