Lunakanawai 13
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HANA hewa hou iho la na mamo a Iseraela imua o Iehova; a haawi mai la o Iehova ia lakou i ka lima o ko Pilisetia, i hookahi kanaha makahiki.
1Dân Y-sơ-ra-ên cứ làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Phi-li-tin trọn bốn mươi năm.
2Aia no kekahi kanaka, no Zora, no ka Dana ohana, o Manoa kona inoa, ua pa kana wahine, aole i hanau.
2Vả, có một người Xô-rê-a, thuộc về một họ hàng của chi phái Đan, tên là Ma-nô-a; vợ người son-sẽ, không có con.
3Ikea mai ka anela o Iehova e ka wahine, i mai la ia ia, Aia hoi, ua pa oe, aole i hanau; e hapai auanei oe, a hanau mai i keikikane.
3Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người đàn bà ấy mà rằng: Kìa, ngươi son sẻ không có con; nhưng ngươi sẽ thọ thai và sanh một con trai.
4No ia mea la ea, mai inu oe i ka waina, aole hoi i ka wai awaawa, mai ai hoi i kekahi mea haumia.
4Vậy, từ bây giờ hãy cẩn thận, chớ uống rượu hay là vật chi say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch;
5Aia hoi, e hapai ana oe, a e hanau mai i keikikane, aole e kau ka pahiumiumi ma kona poo; no ka mea, e lilo ia keiki i Nazarite ia Iehova, mai ka opu aku; nana e hoomaka i ka hoola i ka Iseraela, mai ka lima aku o ko Pilisetia.
5vì người sẽ có nghén và sanh một đứa con trai. Dao cạo sẽ không đưa qua đầu nó, bởi vì đứa trẻ từ trong lòng mẹ sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời; về sau nó sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin.
6Alaila, hele ae la ka wahine, a hai ae la i kana kane, i ae la, Ua hele mai nei ke kanaka o ke Akua ia'u, ua like kona helehelena me ka helehelena o ka anela o ke Akua, weliweli loa. Aole au i ninau aku ia ia i kona wahi, aole hoi ia i hai mai ia'u i kona inoa.
6Người đàn bà đi thuật lại cùng chồng mình rằng: Một người của Đức Chúa Trời đến cùng tôi, diện mạo người giống như diện mạo thiên sứ của Đức Chúa Trời, rất đáng kính đáng sợ. Tôi không dám hỏi người ở đâu, người cũng không tỏ cho biết tên người;
7I mai la ia ia'u, Aia hoi, e hapai auanei oe, a e hanau mai i keikikane. Nolaila ea, mai inu oe i ka waina, aole hoi i ka wai awaawa, aole hoi e ai i kekahi mea haumia; no ka mea, e lilo ua keiki la i Nazarite i ke Akua mai ka opu mai, a hiki i ka la o kona make ana.
7nhưng người có nói cùng tôi rằng: Kìa, ngươi sẽ thọ thai và sanh một đứa trai; vậy bây giờ, chớ uống rượu hay là vật chi say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch; vì đứa trẻ đó, từ trong lòng mẹ cho đến ngày qua đời, sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời.
8Alaila, nonoi aku la o Manoa ia Iehova, i aku la, E kuu Haku e, e kuu mai i ko ke Akua kanaka au i hoouna mai ai, e hele hou mai ia maua, e ao mai ia maua i na mea a maua e hana aku ai i ke keiki e hanau mai ana.
8Ma-nô-a cầu nguyện Đức Giê-hô-va mà rằng: Oâi, Chúa! xin Chúa cho người của Đức Chúa Trời mà Chúa đã sai xuống, lại đến cùng chúng tôi, đặng dạy chúng tôi điều phải làm cho đứa trẻ sẽ sanh ra!
9Hoolohe mai la ke Akua i ka leo o Manoa, a hele hou mai ka anela o ke Akua i ua wahine la, i kona noho ana, ma ke kula, aka, o Manoa, o kana kane aole ia pu me ia.
9Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của Ma-nô-a. Thiên sứ của Đức Chúa Trời lại đến cùng người đàn bà đang khi ngồi trong đồng ruộng; còn Ma-nô-a, chồng nàng, không có tại đó với nàng.
10Wikiwiki iho la ka wahine, a holo, a hoike ae la i kana kane, i aku la ia ia, Aia hoi, ua ike hou ia mai la ia'u ke kanaka i hele mai ai ia'u i kela la.
10Người đàn bà liền chạy đi thuật cho chồng rằng: Kìa, người đã đến cùng tôi ngày nọ, nay lại hiện đến.
11Ku ae la o Manoa a hahai aku la i kana wahine, a hiki i ua kanaka la, i aku la ia ia, O oe anei ke kanaka i olelo mai ai i ua wahine nei? I mai la kela, Owau no.
11Ma-nô-a đứng dậy, đi theo vợ mình, và khi đến gần người đó, thì nói rằng: Oâng có phải là người đã nói cùng đàn bà nầy chăng? Người đáp: Aáy là ta.
12I aku la o Manoa, E hookoia kau olelo. Pehea la maua e hooponopono ai i ke keiki? Heaha hoi ka hana nana?
12Ma-nô-a tiếp: Khi lời ông ứng nghiệm, thì đứa trẻ phải giữ theo lệ nào, và phải làm làm sao?
13I mai la ka anela o Iehova ia Manoa, E malama pono ka wahine i na mea a pau a'u i olelo aku ai ia ia.
13Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp cùng Ma-nô-a rằng: Người đàn bà phải kiêng cữ mọi điều ta đã dặn
14Mai ai oia i kekahi mea o ke kumuwaina, mai inu i ka waina, aole hoi i ka mea awaawa, mai ai oia i ka mea haumia. O na mea a pau a'u i kauoha aku ai ia ia, e malama pono ia.
14nàng chớ nên ăn sản vật gì của vườn nho, chớ nên uống rượu hay là vật chi uống say, và cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch, người khá giữ theo mọi điều ta đã chỉ dạy cho.
15I aku la o Manoa i ka anela o Iehova, E kaohi paha maua ia oe, a hoomakaukauia he kaokeiki, imua ou.
15Bấy giờ, Ma-nô-a thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: Xin cho phép chúng tôi cầm ông lại đặng dọn dâng cho ông một con dê con.
16I mai la ka anela o Iehova ia Manoa, Ina kaohi mai oe ia'u, aole loa au e ai i kau berena; a ina e mohai oe i ka mohai kuni, e mohai oe ia no Iehova: no ka mea, aole i ike o Manoa he anela ia no Iehova.
16Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp cùng Ma-nô-a rằng: Dầu ngươi cầm ta lại, ta cũng chẳng ăn thực vật của ngươi; nhưng nếu muốn làm một của lễ thiêu, thì hãy dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Vả, Ma-nô-a không rõ ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va,
17I aku la o Manoa i ka anela o Iehova, Owai kou inoa? I hoomaikai aku ai maua ia oe i ka wa e ko ai kau mau olelo.
17Ma-nô-a lại thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: Danh ông là chi, để chúng tôi tôn trọng ông khi lời ông phán được ứng nghiệm?
18I mai la ka anela o Iehova ia ia, No ke aha la oe i ninau mai ai i ko'u inoa, no ka mea, he kupanaha ia.
18Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp rằng: Sao ngươi hỏi danh ta như vậy? Danh ta lấy làm diệu k”.
19Kii ae la o Manoa i kaokeiki, a me ka mohai makana, a kaumaha aku la no Iehova maluna o ka po haku: a hana kupanaha iho la ia; a nana aku la o Manoa a me kana wahine.
19Ma-nô-a bắt con dê con luôn với của lễ chay, dâng lên cho Đức Giê-hô-va tại trên hòn đá. Thiên sứ bèn làm ra một việc lạ lùng, có Ma-nô-a và vợ người làm chứng kiến.
20I ka pii ana aku o ka lapalapa iluna i ka lani, mai ka lele aku, pii pu aku la ka anela o Iehova maloko o ka lapalapa o ke ahi o ka lele. Nana aku la o Manoa a me kaua wahine, a hina iho la ilalo ke alo i ka honua.
20trong lúc ngọn lửa từ bàn thờ cất bay lên trên trời, thì thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng lên theo trong ngọn lửa của bàn thờ. Thấy vậy, Ma-nô-a té sấp mặt xuống đất.
21Aole ike hou ia ka anela o Iehova ia Manoa a me kana wahine. Alaila ike pono iho la o Manoa, he anela ia no Iehova.
21Thiên sứ của Đức Giê-hô-va chẳng còn hiện đến cùng Ma-nô-a và vợ người nữa. Ma-nô-a nhận biết ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va,
22I ae la Manoa i kana wahine, E make auanei kaua, no ka mea, ua ike kaua i ke Akua.
22bèn nói cùng vợ rằng: Quả thật chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!
23I mai la kana wahine ia ia, Ina i manao mai o Iehova e pepehi mai ia kaua, ina ua lawe ole oia i ka mohaikuni, a me ka mohai makana mai ko kaua lima aku, aole hoi e hoike mai ia kaua i keia mau mea a pau, aole hoi e hai mai ia kaua peneia.
23Nhưng vợ đáp rằng: Nếu Đức Giê-hô-va muốn giết chúng ta, lẽ nào Ngài có nhậm của lễ thiêu và của lễ chay nơi tay ta, lại lẽ nào Ngài đã cho chúng ta thấy các điều nầy, và cho ta nghe những lời mà chúng ta đã nghe ngày nay.
24Hanau mai la ua wahine la, he keikikane, a kapa aku la i kona inoa o Samesona. Nui ae la ua keiki nei, a hoomaikai mai o Iehova ia ia.
24Người đàn bà này sanh một con trai, đặt tên là Sam-sôn. Đứa trẻ lớn lên, và Đức Giê-hô-va ban phước cho.
25Hoomaka iho la ka Uhane o Iehova e hooikaika ia ia, ma Mahanedana, mawaena o Zora a me Asetaola.
25Thần Đức Giê-hô-va khởi cảm động người tại trong dinh Đan, giữa khoảng Xô-rê-a và Ê-ta-ôn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.