Iakobo 5
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E HELE oukou, e ka poe waiwai, e uwe oukou me ka aoa aku no na ehaeha e kau mai ana maluna o oukou.
1Hỡi anh em là kẻ giàu có! Hãy khóc lóc, kêu la, vì cớ hoạn nạn sẽ đổ trên anh em.
2Ua popopo ko oukou waiwai, ua pau hoi ko oukou kapa aahu i ka mu.
2Của cải anh em bị mục nát, áo xống bị mối mọt ăn rồi.
3Ua aiia e ka popo ko oukou gula, a me ko oukou kala; he hoike ka popo o ia mau mea no oukou, a e ai aku i ko oukou io me he ahi la. Ua hoiliili oukou no na la mahope.
3Vàng bạc anh em bị ten rét, ten rét đó sẽ làm chứng nghịch cùng anh em, nó cũng như lửa vậy, sẽ ăn thịt anh em. Anh em đã thâu trử tiền của trong những ngày sau rốt!
4Aia hoi, o ka uku o ka poe hana nana i hoiliili ai ma ka oukou mau mahinaai i paa hewa ia oukou, ke kahea aku nei ia; a o ke kahea ana o ka poe hoiliili, komo ae la ia iloko o na pepeiao o ka Haku Sabaota.
4Kìa, tiền công con gặt gặt ruộng anh em, mà anh em đã ăn gian, nó kêu oan, và tiếng kêu của con gặt đã thấu đến tai Chúa các cơ binh.
5Ua noho lealea oukou ma ka honua me ke kuulala loa: ua kupalu oukou i ko oukou naau no ka la e make ai.
5Anh em đã sống trên thế gian ăn uống vui sướng và xa xỉ, anh em đã làm cho lòng mình no nê trong ngày chém giết;
6Ua hoohewa oukou me ka pepehi aku hoi i ka mea pono; aole oia i pale aku ia oukou.
6anh em đã luận tội và đã giết người công bình, mà người chẳng cự lại.
7I nui ke aho, e na hoahanau, a hiki mai ka Haku. Eia hoi, ke kakali nei ka mahiai i ka hua ohaha o ka honua, e hoomanawanui ana ma ia mea a hiki mai ke kuaua mua a me ke kuaua hope.
7Hỡi anh em, vậy hãy nhịn nhục cho tới k” Chúa đến. Hãy xem kẻ làm ruộng: họ bền lòng chờ đợi sản vật quí báu dưới đất cho đến chừng nào đã được mưa đầu mùa và cuối mùa.
8E ahonui no hoi oukou, e hooikaika i ko oukou naau; no ka mea, ua kokoke mai ka hiki ana mai o ka Haku.
8Anh em cũng vậy, hãy nhịn nhục và bền lòng; vì k” Chúa đến gần rồi.
9E na hoahanau, mai ohumu aku kekahi i kekahi, o hoohewaia mai oukou. Eia hoi, ke ku mai nei ka lunakanawai ma ka puka.
9Hỡi anh em, chớ oán trách nhau, hầu cho khỏi bị xét đoán; kìa, Đấng xét đoán đứng trước cửa.
10E na hoahanau o'u, e hoomanao oukou i ka poe kaula i olelo mai ai ma ka inoa o ka Haku, ia lakou no ka hoomaewaewaia, a me ke ahonui.
10Hỡi anh em, hãy lấy các đấng tiên tri đã nhân danh Chúa mà nói, làm mẫu mực về sự chịu khổ và nhịn nhục cho mình.
11Aia hoi, ke kapa nei kakou i ka poe hoomanawanui, he pomaikai. Ua lohe oukou i ka hoomanawanui ana o Ioba, a ua ike oukou i ka ka Haku hope; ua lokomaikai nui ka Haku me ke aloha mai.
11Anh em biết rằng những kẻ nhịn nhục chịu khổ thì chúng ta xưng là có phước. Anh em đã nghe nói về sự nhịn nhục của Gióp, và thấy cái kết cuộc mà Chúa ban cho người; vì Chúa đầy lòng thương xót và nhân từ.
12He oiaio hoi, e na hoahanau o'u, mai hoohiki ino iki, aole i ka lani, aole i ka honua, aole hoi ma na hoohiki e ae: aka, e hoolilo i ko oukou ae i ae io, a me ko oukou hoole, i ole io; o haule oukou i ka hoohewaia mai.
12Hỡi anh em, trước hết chớ có thề, chớ chỉ trời, chỉ đất, cũng chớ chỉ vật khác mà thề; nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, hầu cho khỏi bị xét đoán.
13I ehaeha anei kekahi o oukou? e pule oia; a i hauoli anei kekahi? e himeni aku ia.
13Trong anh em có ai chịu khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện. Có ai vui mừng chăng? hãy hát ngợi khen.
14Ina he mai ko kekahi o oukou, e kii aku oia i ka poe lunakahiko o ka ekalesia; a e pule lakou maluna ona, me ka hamo ana ia ia i ka aila ma ka inoa o ka Haku,
14Trong anh em có ai đau ốm chăng? hãy mời các trưởng lão Hội thánh đến, sau khi nhân danh Chúa xức dầu cho người bịnh đoạn, thì các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người.
15A o ka pule o ka mauaoio, e hoola no ia i ka mea mai, a na ka Haku e hoala mai ia ia; a ina i hana hewa oia, e kalaia mai ia.
15Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh, Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy; nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha.
16E hai aku i ko oukou mau hewa kekahi i kekahi, a e pule hoi kekahi no kekahi, i pohala ai oukou. O ka pule ikaika a ke kanaka pono e lanakila nui ia.
16Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.
17He kanaka no o Elia, ua like kona ano me ko kakou, a pule ikaika aku ia, i ua ole mai; aole loa i ua mai ma ka honua i na makahiki ekolu a me na malama keu eono.
17Ê-li vốn là người yếu đuối như chúng ta. Người cầu nguyện, cố xin cho đừng mưa, thì không mưa xuống đất trong ba năm rưỡi.
18A pule hou aku ia, a haawi mai no ka lani i ka ua, a hooulu mai ka honua i kona hua.
18Đoạn, người cầu nguyện lại, trời bèn mưa, và đất sanh sản hoa màu.
19E na hoahanau, ina e hele hewa kekahi o oukou, mai ka oiaio ae, a e hoohuli mai kekahi ia ia;
19Hỡi anh em, trong vòng anh em nếu có ai lầm lạc cách xa lẽ thật, mà có người khác làm cho nó trở lại,
20E ike pono oia, o ka mea e hoohuli mai ana i ka mea hewa, mai kona hele hewa ana mai, nana no i hoopakele ae ka uhane i ka make, a nana hoi i hooki i ka hewa he nui loa.
20thì phải biết rằng kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.