Galatia 3
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E NA Galatia naaupo, nawai oukou i hoowalewale mai i hoo lohe ole ai oukou i ka oiaio, imua o ko oukou maka ua waihoia o Iesu Kristo i kaulia ma ke kea iwaena o oukou?
1Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rõ bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá?
2Eia wale no ko'u makemake e hoikeia mai e oukou; Ma na hana o ke kanawai anei i loaa'i ia oukou ka Uhane, a ma ka hoolohe aku o ka mauaoio anei?
2Tôi chỉ hỏi anh em một câu nầy: Aáy là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh?
3Pela anei ko oukou naaupo? i hoomaka iho ai oukou ma ko ka Uhane, a ke hooki nei anei oukou ma ko ke kino?
3Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?
4Ua make hewa anei kela mau mea pilikia i hiki mai ai io oukou la? ina pela ua make hewa paha.
4Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao? nếu quả là luống công!
5No ia hoi, o ka mea i haawi mai i ka Uhane no oukou, a hana mai hoi i na hana mana iwaena o oukou, ma na hana o ke kanawai anei ia, a ma ka hoolohe ana o ka manaoio anei?
5Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp, hay là bởi đã nghe mà tin?
6E like me Aberahama i manaoio ai i ke Akua, a na hooliloia'e ia i pono nona.
6Như Aùp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người,
7No ia mea, e ike oukou, o ka poe ma ka manaoio, o lakou ka poe keiki na Aberahama.
7vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Aùp-ra-ham.
8Ike e iho la ka palapala hemolele, e hoopono ana ke Akua i na lahuikanaka ma ka manaoio, hai e aku la ia mamua i ka euanelio ia Aberahama, Ma on aku la e hoopomaikaiia'i na lahuikanaka a pau.
8Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Aùp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước.
9Nolaila hoi, o na mea ma ka manaoio, na hoopomaikai pu ia lakou me Aberahama ka mea manaoio.
9Aáy vậy, ai tin thì nấy được phước với Aùp-ra-ham, là người có lòng tin.
10No ka mea, o ka poe a pau ma na hana o ke kanawai, aia no lakou malalo o ka hoahewaia; penei i palapalaia'i, E hoahewaia'ku na mea a pau i hoomau ole o hana i na mea a pau i kakauia maloko o ka buke o ke kanawai.
10Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy!
11Aka, ua akaka keia, aole kekahi e hoaponoia imua o ke Akua ma ke kanawai: no ka mea, O ka mea i pono, e ola ia ma ka manaoio.
11Vả lại chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin.
12A o ke kanawai, aole ia ma ka manaoio: aka, o ke kanaka e hana ana ia mau mea, e ola ia ilaila.
12Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin, nhưng luật pháp có chép rằng: Người nào vâng giữ các điều răn thì sẽ nhờ đó mà sống.
13Ua hoola ae la o Kristo ia kakou mai ka hoahewaia e ke kanawai, i kona lilo ana i ka hoahewaia no kakou: no ka mea, na palapalaia, Ua hoahewaia na mea a pau i kauia maluna o ka laau:
13Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ,
14I kau mai ai ka hoopomaikaiia o Aberahama maluna o ko na aina e ma o Iesu Kristo la: i loaa mai ai ia kakou ma ka manaoio ka mea i oleloia mai ka Uhane.
14hầu cho phước lành ban cho Aùp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho.
15E na hoahanau, ke olelo aku nei au ma ka ke kanaka; Ina i hoopania ka berita a kanaka wale no, aole kekahi e hoole ia mea, aole hoi e hana hou.
15Hỡi Anh em, tôi nói theo thói quen người ta rằng: Khi một người đã làm tờ giao ước thành rồi, thì không ai có phép được xóa đi hay thêm vào sự gì.
16A ua haiia mai no na olelo ia Aberahama a me kana mamo. Aole ia i olelo mai no na mamo he nui; aka, no ka mea hookahi, No kau mamo, oia hoi o Kristo.
16Vả, các lời hứa đã được phán cho Aùp-ra-ham và cho dòng dõi người. không nói: Và cho các dòng dõi người, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: Và cho dòng dõi ngươi, như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ.
17O keia ka'u o olelo aku nei, o ka berita i hoopaa e ia mamua e ke Akua no Kristo, aole e hiki i ke kanawai i kania mahope mai o na haneri makahiki eha a me kanakolu ke hoole aku, i haule ai ka olelo.
17Vậy thì tôi nói rằng: Lời giao ước mà Đức Chúa Trời trước kia đã kết lập thành rồi, thì không có thể bị hủy đi, và lời hứa cũng không có thể bị bỏ đi bởi luật pháp, là sự cách sau bốn trăm ba mươi năm mới có.
18A ina ma ke kanawai ka hooili ana, aole no ia ma ka olelo: aka, na ke Akua ia i haawi wale mai ia Aberahama ma ka olelo.
18Vì, nếu cơ nghiệp được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban cơ nghiệp cho Aùp-ra-ham.
19I me aha hoi ke kanawai? Ua kauia mai ia no na hala, a hiki mai ka mamo nona ka olelo; a na hoolahaia'e la ia e na anela ma ka lima o ka mea uwao.
19Vậy thì làm sao có luật pháp? luật pháp đã đặt thêm, vì cớ những sự phạm phép, cho tới chừng nào người dòng dõi đến, là người mà lời hứa đã hứa cho; luật pháp được ban ra bởi mấy thiên sứ và truyền ra bởi một người trung bảo.
20A o ka mea uwao, aole ia no ka mea hookahi; aka, o ke Akua, hookahi no ia.
20Vả, người trung bảo chẳng phải là người trung bảo về một bề mà thôi, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.
21Ua ku e no anei ke kanawai i na olelo a ke Akua? Aole loa: no ka mea, ina i haawiia mai ke kanawai e hiki ia ia ke hoola, ina no ma ke kanawai ka pono.
21Vậy thì luật pháp nghịch cùng lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? chẳng hề như vậy; vì nếu đã ban cho một luật pháp có thể làm cho sống, thì sự công bình chắc bởi luật pháp mà đến.
22Aka, ua papapau pu na mea a pau i ka palapala hemolele malalo o ka hewa, i haawiia mai ai ka olelo ma ka manaoio ia Iesu Kristo na ka poe manaoio aku.
22Nhưng Kinh Thánh đã nhốt hết thảy mọi sự dưới tội lỗi, hầu cho điều chi đã hứa, bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ mà được ban cho những kẻ tin.
23A mamua o ka hiki ana mai o ka manaoio, ua hoopaaia kakou malalo o ke kanawai, ua pio hoi a hiki i ka manawa e hoakakaia mai ai ka manaoio.
23Trước khi đức tin chưa đến, chúng ta bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp mà chờ đức tin phải bày ra.
24Nolaila, ua lilo ae la ke kanawai i kumualakai no kakou io Kristo la, i hoaponoia mai ai kakou ma ka manaoio.
24Aáy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình.
25Aka, i ka hiki ana mai o ka manaoio, aole o noho hou kakou malalo o ke kumualakai.
25Song khi đức tin đã đến, chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa.
26No ka mea, he poe keiki oukou a pau na ke Akua ma ka manaoio ia Kristo Iesu.
26Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời.
27No ka mea, o na mea a pau o oukou i hapetisoia iloko o Kristo, ua aahu iho oukou ia Kristo.
27Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy.
28Aole he Iudaio, aole hoi he Helene, aole he mea paa, aole hoi he mea paa ole, aole he kane, aole hoi he wahine; no ka mea, hookahi no oukou a pau iloko o Kristo Iesu.
28Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một.
29Ina paha no Kristo oukou, alaila he poe mamo oukou na Aberahama, a me na hooilina hoi mamuli o ka olelo hoopomaikai.
29Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Aùp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.