Joshua
Chapter 4
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kaminawk boih Jordan vapui angkat o pacoengah, Angraeng mah Joshua khaeah,
1Khi cả dân đã qua khỏi Giô-đanh rồi, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Giô-suê rằng:
2kaminawk salak hoi kami hatlai hnetto, acaeng maeto thung hoi kami maeto qoih pacoengah,
2Hãy chọn trong dân sự mười hai người, mỗi chi phái một người;
3Jordan vapui um qaimanawk angdoethaih ahmuen ih, thlung hatlai hnetto to la oh loe apu oh; vaiqum na iih o haih ahmuen ah to thlungnawk to suem oh, tiah a naa.
3rồi truyền lịnh này cho các người đó: Hãy lấy mười hai hòn đá tại đây giữa sông Giô-đanh, từ nơi chân những thầy tế lễ đứng vững, rồi đem nó theo, và đặt tại chỗ các ngươi sẽ ngủ ban đêm.
4To pongah Joshua mah Israel kaminawk ih acaeng maeto thung hoiah kami maeto kawk moe,
4Vậy, Giô-suê gọi mười hai người mà mình đã chọn trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi chi phái một người,
5nihcae khaeah, Na Angraeng Sithaw thingkhong ih ahmaa, Jordan vapui um ah caeh oh loe, Israel acaeng zetto ah kami maeto mah thlung maeto apu oh;
5mà truyền rằng: Hãy đi qua trước hòm của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi tại giữa sông Giô-đanh, rồi mỗi người, theo số chi phái Y-sơ-ra-ên, phải vác một hòn đá trên vai mình,
6to thlung loe nangcae salakah angmathaih ah om tih; hmabang ah na caanawk mah, Hae thlung loe tih thuikoehhaih ih aa? tiah na dueng o nahaeloe,
6hầu cho điều đó làm một dấu ở giữa các ngươi. Về sau, khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Những hòn đá này có nghĩa chi?
7nangcae mah nihcae khaeah, Angraeng lokkamhaih thingkhong Jordan vapui angkat naah, a hmaa ah Jordan vapui tui to apet; Jordan vapui apet ving pongah, hae loe Israel kaminawk hanah dungzan panoek poehaih thlung ah om tih, tiah thui pae oh, tiah a naa.
7thì hãy đáp rằng: Aáy là nước sông Giô-đanh đã rẽ ra trước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va; khi hòm đi ngang qua sông Giô-đanh; thì nước sông bèn rẽ ra; các hòn đá này dùng cho dân Y-sơ-ra-ên làm kỷ niệm đời đời.
8Joshua mah paek ih lok baktih toengah Israel kaminawk mah sak o; Angraeng mah Joshua khaeah thuih pae ih lok baktih toengah, Israel acaengnawk zetto ah, Jordan vapui um ah thlung hatlai hnetto akhuih o; to thlung to angmacae ohhaih ahmuen ah sinh o moe, to ah a suek o.
8Vậy, dân Y-sơ-ra-ên làm theo điều Giô-suê đã biểu, bèn lấy mười hai hòn đá ở giữa sông Giô-đanh, theo số chi phái dân Y-sơ-ra-ên, và đem nó theo cùng mình đến chỗ nào phải ngủ ban đêm, rồi đặt tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Giô-suê.
9Joshua mah lokkamhaih thingkhong apu qaimanawk angdoethaih ahmuen Jordan vapui um ah, thlung hatlai hnetto a tlingh; to thlung loe vaihni ni khoek to oh.
9Giô-suê cũng dựng mười hai hòn đá giữa sông Giô-đanh, tại nơi chân những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước đã đứng; các hòn đá ấy hãy còn ở đó cho đến ngày nay.
10Angraeng mah Joshua khaeah paek ih lok baktih, Mosi mah thuih ih lok baktih toengah, kaminawk mah sah o boih ai karoek to, Angraeng lokkamhaih thingkhong apu qaimanawk loe Jordan vapui um ah angdoet o, to naah kaminawk loe karangah angkat o.
10Những thầy tế lễ khiêng hòm đều đứng giữa sông Giô-đanh cho đến chừng nào đã làm xong mọi việc mà Đức Giê-hô-va đã dặn biểu Giô-suê truyền lại cho dân sự, theo mạng lịnh mà Môi-se đã truyền cho Giô-suê. Dân sự bèn lật đật đi qua sông.
11Kaminawk angkat o boih pacoengah, Angraeng lokkamhaih thingkhong hoi qaimanawk loe, kaminawk mikhnuk ah nawnto angkat o.
11Khi cả dân sự đã đi qua sông rồi, thì hòm của Đức Giê-hô-va, và những thầy tế lễ cũng đi qua trước mặt dân sự.
12Mosi mah nihcae khaeah thuih ih lok baktih toengah, Reuben acaeng, Gad acaeng hoi ahap Manasseh acaengnawk loe, maiphaw maica to sin o moe, Israel kaminawk hmaa ah angkat o.
12Con cháu Ru-bên, con cháu Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se cầm binh khí đi trước dân Y-sơ-ra-ên, y như Môi-se đã dặn biểu họ.
13To tiah misatuk han caeh kaminawk loe, kami sang quipalito oh o moe, misatuk han Angraeng hmaa ah Jeriko azawn bangah angkat o.
13Có chừng bốn muôn người sắm sửa ra trận, đi qua trước mặt Đức Giê-hô-va, đến trong đồng bằng Giê-ri-cô, đặng đánh giặc.
14To na niah Israel kaminawk mikhnuk ah Angraeng mah Joshua to tapom tahang; nihcae mah Mosi zit o baktih toengah, hing thung Joshua doeh a zit o.
14Ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến Giô-suê được tôn trọng trước mặt cả Y-sơ-ra-ên, và chúng kính sợ người trọn đời người, như đã kính sợ Môi-se vậy.
15To naah Angraeng mah Joshua khaeah,
15Vả, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng:
16hnukung ah kaom thingkhong apu qaimanawk to, Jordan vapui hoi angzoh tahang han lokpaek ah, tiah a naa.
16Hãy truyền cho những thầy tế lễ khiêng hòm bảng chứng đi lên khỏi sông Giô-đanh.
17To pongah Joshua mah qaimanawk khaeah, Jordan vapui thung hoi angzo o tahang ah, tiah a naa.
17Giô-suê bèn truyền lịnh cho những thầy tế lễ rằng: Hãy đi lên khỏi Giô-đanh.
18Angraeng lokkamhaih thingkhong apu qaimanawk vapui thung hoi angzoh o tahang moe, tuicing to khok hoi a cawh o naah, Jordan vapui to angmah ih ahmuen ah amlaem let moe, canghni ah longh baktiah a longh let.
18Khi những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đã lên khỏi giữa sông, và bàn chân họ dở lên đặng bước trên đất khô rồi, thì nước sông Giô-đanh trở lại chỗ cũ và chảy tràn ra khắp mé như trước.
19Khrah tangsuek ni hatlai hnetto naah, Jeriko ni angyae bang ramri ah kaom, Gilgal ah atai o.
19Ngày mồng mười tháng giêng, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.
20To naah Jordan vapui thung hoi akhuih o ih thlung hatlai hnetto to, Joshua mah Gilgal ah tlingh.
20Giô-suê dựng tại Ghinh-ganh mười hai hòn đá mà dân chúng đã lấy dưới sông Giô-đanh.
21Anih mah nihcae khaeah, Israel kaminawk khaeah, Hmabang ah na caanawk mah ampanawk khaeah, Hae ih thlungnawk loe tih thuikoehhaih ih aa? tiah dueng o nahaeloe,
21Đoạn, người nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Về sau, khi con cháu các ngươi hỏi cha mình rằng: Các hòn đá này có nghĩa gì?
22Israel kaminawk loe hae Jordan vapui hae saoeng ah caeh baktih toengah angkat o, tiah thui pae oh.
22thì các ngươi sẽ dạy con cháu mình mà rằng: Y-sơ-ra-ên đã đi qua sông Giô-đanh trên đất khô,
23Aicae mah tuipui kathim angkat o boih ai karoek to, na Angraeng Sithaw mah aicae hmaa ah tuipui kathim tui to kaangsak baktih toengah, Jordan vapui nang kat o boih ai karoek to, na Angraeng Sithaw mah nangcae hmaa ah Jordan vapui tui to kaangsak.
23vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm cho sông Giô-đanh bày khô trước mặt các ngươi, cho đến chừng nào các ngươi đã qua khỏi, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm tại Biển đỏ, khiến cho nó bày khô trước mặt chúng ta, cho đến chừng nào chúng ta đã qua khỏi,
24Angraeng ih ban loe thacak, tiah long kaminawk boih mah panoek o moe, na Angraeng Sithaw to dungzan khoek to na zit o thai han ih ni, hae tiah a sak, tiah a naa.
24hầu cho các dân tộc thế gian biết rằng tay của Đức Giê-hô-va là rất mạnh, và cho các ngươi kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi luôn luôn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.