Joshua 4
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jordan aka kat namtom boeih loh a soep la a om van vaeng daengah Joshua te BOEIPA loh a voek tih,
1Khi cả dân đã qua khỏi Giô-đanh rồi, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Giô-suê rằng:
2“Pilnam lamkah te namamih ham hlang hlai nit tuek laeh. Koca khat lamloh hlang pakhat, hlang pakhat saeh.
2Hãy chọn trong dân sự mười hai người, mỗi chi phái một người;
3Te phoeiah amih te uen lamtah thui pah. Jordan tuilung, rhaltawt hmuen kah khosoih kho a pai nah lungto hlai nit he namamih ham phuei uh. Te te namamih taengah kat puei lamtah khoyin kah na rhaeh nah rhaehim ah khueh uh,” a ti nah.
3rồi truyền lịnh này cho các người đó: Hãy lấy mười hai hòn đá tại đây giữa sông Giô-đanh, từ nơi chân những thầy tế lễ đứng vững, rồi đem nó theo, và đặt tại chỗ các ngươi sẽ ngủ ban đêm.
4Te dongah Joshua loh hlang hlai nit te a khue. Te te koca pakhat lamkah hlang pakhat, hlang pakhat te Israel ca khui lamloh a hmoel.
4Vậy, Giô-suê gọi mười hai người mà mình đã chọn trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi chi phái một người,
5Te phoeiah amih te Joshua loh, “BOEIPA na Pathen kah thingkawng hmai ah Jordan tuilung la kat uh lamtah Israel ca rhoek kah koca aka om tarhing loh a laengpang dongah lungto pakhat pakhat rhip kawt uh.
5mà truyền rằng: Hãy đi qua trước hòm của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi tại giữa sông Giô-đanh, rồi mỗi người, theo số chi phái Y-sơ-ra-ên, phải vác một hòn đá trên vai mình,
6Te daengah ni miknoek he nangmih khui ah a om eh. Thangvuen ah na ca rhoek loh nangmih te n'dawt tih, 'Hekah lungto he bahamlae,’ a ti ni.
6hầu cho điều đó làm một dấu ở giữa các ngươi. Về sau, khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Những hòn đá này có nghĩa chi?
7Te vaengah amih taengah, “Jordan lan ham vaengah BOEIPA paipi thingkawng hmai ah Jordan tui kak coeng. Jordan tui a kak coeng dongah hekah he Israel ca rhoek taengah poekkoepnah lungto la kumhal duela om saeh ti nah,” a ti nah.
7thì hãy đáp rằng: Aáy là nước sông Giô-đanh đã rẽ ra trước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va; khi hòm đi ngang qua sông Giô-đanh; thì nước sông bèn rẽ ra; các hòn đá này dùng cho dân Y-sơ-ra-ên làm kỷ niệm đời đời.
8Te dongah Joshua loh a uen vanbangla Israel ca rhoek loh a saii uh. BOEIPA loh Joshua taengkah a thui bangla Jordan tuilung lamkah lungto hlai nit te Israel ca rhoek kah koca tarhing la a koh uh tih rhaehim te a paan puei phoeiah a khueh uh.
8Vậy, dân Y-sơ-ra-ên làm theo điều Giô-suê đã biểu, bèn lấy mười hai hòn đá ở giữa sông Giô-đanh, theo số chi phái dân Y-sơ-ra-ên, và đem nó theo cùng mình đến chỗ nào phải ngủ ban đêm, rồi đặt tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Giô-suê.
9Te dongah paipi thingkawng aka kawt khosoih kho kah rhaltawt hmuen, Jordan tuilung ah Joshua loh lungto hlai nit a ling tih tihnin due om pueng.
9Giô-suê cũng dựng mười hai hòn đá giữa sông Giô-đanh, tại nơi chân những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước đã đứng; các hòn đá ấy hãy còn ở đó cho đến ngày nay.
10Pilnam taengah Joshua loh thui hamla BOEIPA loh a uen hno te Joshua taengah Moses loh boeih a uen vanbangla boeih a coeng due thingkawng aka kawt khosoih rhoek khaw Jordan tuilung ah pai uh. Te vaengah pilnam long khaw baang kat uh van.
10Những thầy tế lễ khiêng hòm đều đứng giữa sông Giô-đanh cho đến chừng nào đã làm xong mọi việc mà Đức Giê-hô-va đã dặn biểu Giô-suê truyền lại cho dân sự, theo mạng lịnh mà Môi-se đã truyền cho Giô-suê. Dân sự bèn lật đật đi qua sông.
11Aka kat ham koi pilnam loh boeih a soep van neh BOEIPA thingkawng neh khosoih rhoek khaw pilnam kah mikhmuh ah kat phai van.
11Khi cả dân sự đã đi qua sông rồi, thì hòm của Đức Giê-hô-va, và những thầy tế lễ cũng đi qua trước mặt dân sự.
12Reuben koca rhoek, Gad koca rhoek neh Manasseh koca hlangvang te tah Moses kah a thui bangla Israel ca rhoek kah a mikhmuh ah caem la cet uh.
12Con cháu Ru-bên, con cháu Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se cầm binh khí đi trước dân Y-sơ-ra-ên, y như Môi-se đã dặn biểu họ.
13Jerikho kolken ah caemtloek ham thawng sawmli tluk loh BOEIPA mikhmuh ah pumcum uh tih caempuei la khoong uh.
13Có chừng bốn muôn người sắm sửa ra trận, đi qua trước mặt Đức Giê-hô-va, đến trong đồng bằng Giê-ri-cô, đặng đánh giặc.
14Te khohnin ah BOEIPA loh Joshua te Israel pum kah mikhmuh ah a pomsang tih a hing tue khuiah Moses a rhih uh bangla anih khaw a rhih uh.
14Ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến Giô-suê được tôn trọng trước mặt cả Y-sơ-ra-ên, và chúng kính sợ người trọn đời người, như đã kính sợ Môi-se vậy.
15Te phoeiah BOEIPA loh Joshua te a voek tih,
15Vả, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng:
16“Olphong thingkawng aka kawt khosoih rhoek te uen lamtah Jordan lamkah ha luei uh saeh,” a ti nah.
16Hãy truyền cho những thầy tế lễ khiêng hòm bảng chứng đi lên khỏi sông Giô-đanh.
17Te dongah Joshua loh khosoih rhoek te a uen tih, “Jordan lamloh ha luei uh laeh,” a ti nah.
17Giô-suê bèn truyền lịnh cho những thầy tế lễ rằng: Hãy đi lên khỏi Giô-đanh.
18Te dongah BOEIPA kah paipi thingkawng aka kawt khosoih rhoek loh Jordan tuilung lamkah ha luei la ha luei uh. Tedae khosoih rhoek kah a khopha loh lanhak la a cawt van neh Jordan tui khaw amah hmuen la bal tih hlaem hlavai kah bangla tuikaeng tom ah khawk li.
18Khi những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đã lên khỏi giữa sông, và bàn chân họ dở lên đặng bước trên đất khô rồi, thì nước sông Giô-đanh trở lại chỗ cũ và chảy tràn ra khắp mé như trước.
19Te dongah pilnam loh Jordan lamkah ha luei uh tih a hla khat dongkah a hnin rha vaengah tah Jerikho khocuk rhi kah Gilgal ah rhaeh uh.
19Ngày mồng mười tháng giêng, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.
20Te vaengah Jordan lamkah a khuen uh lungto hlai nit te Joshua loh Gilgal ah a ling.
20Giô-suê dựng tại Ghinh-ganh mười hai hòn đá mà dân chúng đã lấy dưới sông Giô-đanh.
21Israel ca rhoek te khaw a voek tih, “Thangvuen ah na ca rhoek loh a napa rhoek te a dawt uh tih, 'Hekah lungto he bahamlae?,” a ti uh vaengah,
21Đoạn, người nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Về sau, khi con cháu các ngươi hỏi cha mình rằng: Các hòn đá này có nghĩa gì?
22na ca rhoek te khaw tukkil uh lamtah, “Jordan he Israel loh laiphuei longah a lan ti nah.
22thì các ngươi sẽ dạy con cháu mình mà rằng: Y-sơ-ra-ên đã đi qua sông Giô-đanh trên đất khô,
23Na Pathen BOEIPA loh carhaek tuipuei kah a saii bangla na poeng hil na mikhmuh kah Jordan tui te na Pathen BOEIPA loh a kak sak. Te te mamih loh m'poeng hil mamih mikhmuh ah a rhae sak.
23vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm cho sông Giô-đanh bày khô trước mặt các ngươi, cho đến chừng nào các ngươi đã qua khỏi, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã làm tại Biển đỏ, khiến cho nó bày khô trước mặt chúng ta, cho đến chừng nào chúng ta đã qua khỏi,
24BOEIPA kah tlungluen kut te diklai pilnam rhoek loh boeih ming uh kangna saeh. Te daengah ni na hing tue khui boeih ah BOEIPA na Pathen te na rhih eh?,” a ti nah.
24hầu cho các dân tộc thế gian biết rằng tay của Đức Giê-hô-va là rất mạnh, và cho các ngươi kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi luôn luôn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.