Joshua 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah Nun capa Joshua mah Shittim vangpui hoiah misa khen kami hnetto tamquta hoiah patoeh, nihnik khaeah prae khet han caeh hoih, Jeriko vangpui to kahoih ah khen hoih, tiah a naa. To pacoengah nihnik loe caeh hoi moe, tangyat zaw, Rahab im ah toem hoi.
1Giô-suê, con trai của Nun, từ Si-tim mật sai hai người do thám mà rằng: Hãy đi do thám xứ, nhất là Giê-ri-cô. Vậy, hai người ấy đi đến nhà của một kỵ nữ tên là Ra-háp, và ngụ tại đó.
2Jeriko siangpahrang khaeah, Khenah, Israel kami hnik loe tamquta hoi prae khet hanah vai qum ah vangpui thungah angzoh hoi, tiah thuih pae o.
2Người ta bèn tâu cùng vua Giê-ri-cô rằng: Kìa, đêm nay có người trong dân Y-sơ-ra-ên đã đến do thám xứ.
3To pongah Jeriko siangpahrang mah Rahab khaeah, Nang khaeah angzo, na imthung ah angzo kami hnik loe, tamquta hoi prae khet han angzoh hoi pongah, haeah angzo haih ah, tiah naa.
3Vua Giê-ri-cô sai nói cùng Ra-háp rằng: Hãy đuổi hai người đã đến vào nhà ngươi; vì họ đến đặng do thám cả xứ.
4Toe nongpata mah to kami hnik to hawk ving moe, anih khaeah, Kami hnik loe angzoh hoi tangak; toe naa hoiah maw angzoh hoi, tito ka panoek ai.
4Nhưng người đàn bà đem giấu hai người này, rồi đáp rằng: Quả thật họ đã tới nhà tôi nhưng chẳng biết ở đâu đến.
5Nihnik loe khoving moe, vangpui sipae khongkha khah tom naah, tacawt hoi ving boeh; naa bangmaw a caeh hoi tito ka panoek ai; nihnik to karangah patom oh, na kae o vop tih, tiah a naa.
5Song vào buổi tối cửa thành hầu đóng, hai người ấy đi ra tôi không biết đi đâu; hãy mau đuổi theo, vì các ngươi theo kịp được.
6Toe nongpata mah nihnik to imphu ah dawhsak moe, imphu ah suek ih pathlah thungah anghawksak.
6Vả, nàng có biểu hai người leo lên mái nhà, giấu dưới cộng gai mà nàng rải ở trên mái.
7To pongah kaminawk mah misa khen kami hnik to Jordan vapui caehhaih loklam bangah patom o; nihnik patom kaminawk vangpui khongkha laemh o pacoengah, khongkha thok to a khah o.
7Những người của vua đuổi theo họ về hướng sông Giô-đanh, cho đến chỗ cạn; vừa khi những người đuổi theo đó ra khỏi thành, thì người ta đóng cửa thành.
8Nongpata loe tamquta hoi misa khen hnik iip hoi ai nathuem ah, imphu ah dawh tahang moe,
8Trước khi hai người do thám chưa nằm ngủ, nàng leo lên mái nhà,
9nihnik khaeah, Angraeng mah hae prae hae nangcae ban ah paek boeh, nangcae to paroeai kang zit o; hae prae thung kaom kaminawk loe nangcae zit loiah thazok o sut boeh.
9mà nói rằng: Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã ban cho các ông xứ này, sự kinh khủng vì cớ các ông đã bắt lấy chúng tôi, và cả dân của xứ đều sờn lòng trước mặt các ông.
10Izip prae thung hoi nang zoh o naah, nangcae hanah Angraeng mah kawbangmaw tuipui kathim to kaangsak moe, Jordan vapui yaeh ah kaom Amor siangpahrang, Sihon siangpahrang hoi Og siangpahrang na hum o, tito ka thaih o boeh.
10Vì chúng tôi có hay khi các ông ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thì Đức Giê-hô-va đã khiến nước Biển đỏ bày khô trước mặt các ông, và điều các ông đã làm cho Si-hôn và Oùc, hai vua dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh, mà các ông đã diệt đi.
11To tamthang ka thaih o naah, kaicae ih palungthin loe tui baktiah amzawt moe, nangcae zit loiah misahoihaih palungthin ka tawn o ai boeh; nangcae ih Angraeng Sithaw loe, ranui ih van hoi long thung ih ahmuennawk ukkung Sithaw ah oh.
11Chúng tôi có hay điều đó, lòng bèn tan ra, chẳng ai trong chúng tôi còn can đảm trước mặt các ông nữa; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia, và ở dưới đất thấp này.
12To pongah nanghnik nuiah tahmenhaih kam tuengsak baktih toengah, nanghnik mah doeh kam pa imthung takoh boih nuiah tahmenhaih nam tueng hoi sak hanah, Angraeng ih ahmin hoiah vaihi lokkam hoih loe, tangtang angmathaih to na paek hoih;
12Vậy bây giờ, vì tôi đã làm nhân cho hai ông, thì hai ông cũng phải làm nhân lại cho nhà cha tôi; hãy chỉ Đức Giê-hô-va mà thề cùng tôi, và cho một dấu quả quyết
13kam pa, kam no, kam nawkamyanawk, kam nawk nongpatanawk, nihcae hoi kasaeng canawknawk hinghaih to pathlung paeh; to tiah ni duekhaih thung hoiah kaicae hinghaih hae nang pahlong o thai tih, tiah a naa.
13rằng các ông sẽ để cha mẹ, anh em, chị em tôi, và hết thảy người bà con của họ đều còn sống, cùng cứu chúng tôi khỏi chết.
14To kami hnik mah nongpata khaeah, Ka sak o han ih hmuen na taphong ai nahaeloe, ka hing o baktiah na hing toeng hanah kang pakaa hoi han; Angraeng mah kaicae ban ah prae paek naah, nangcae nuiah tahmenhaih hoi oepthok ah tok ka sak o han hmang, tiah a naa hoi.
14Hai người đáp rằng: Mạng chúng ta sẽ đền cho mạng nàng! Nếu nàng không cho lậu việc chúng ta ra, thì chúng ta sẽ đãi nàng cách nhân từ và thành tín khi Đức Giê-hô-va ban xứ cho chúng ta.
15To nongpata ih im loe vangpui sipae taengah oh pongah, nihnik to qui hoiah thokbuem ah pakhrak tathuk.
15Vậy, nàng dùng một sợi dây dòng hai người xuống nơi cửa sổ, vì nhà nàng ở tại trên vách thành.
16Nongpata mah nihnik khaeah, Nanghnik patom kaminawk mah hnuk han ai ah, mae ah cawn hoih; nanghnik patom kaminawk amlaem o ai karoek to, mae ah ni thumto thung nang hawk hoi pacoengah, caeh hoih, tiah a naa.
16Nàng nói rằng: Hãy đi đến núi, kẻo những người đuổi theo gặp các ông chăng; hãy ẩn đó ba ngày cho đến chừng nào những người đuổi theo trở về; sau rồi các ông hãy đi đường.
17Misa khen kami hnik mah nongpata khaeah, Lokkam ih baktih toengah tok na sah ai nahaeloe, kaihnik kasae na net hmah.
17Vả, hai người nói cùng nàng rằng: Này thể nào chúng ta sẽ khỏi mắc lời thề mà nàng đã bắt ta thề.
18Khenah, prae thungah ka kun o naah, kaihnik nang pakhrakhaih thokbuem ah hae tlangqui kathim hae zaeng ah; nam no hoi nam pa, nam nawkamyanawk, nam pa ih imthung takohnawk to, na imthung ah omsak boih ah.
18Khi nào chúng ta vào xứ, nàng phải cột sợi chỉ điều này nơi cửa sổ mà nàng dòng chúng ta xuống, rồi nhóm hiệp cha mẹ, anh em, và hết thảy bà con của nàng lại trong nhà mình.
19Mi kawbaktih doeh na imthung takoh hoi tacawt moe, loklam ah caeh kami loe, kaihnik nuiah zae nethaih om hmah nasoe; angmah ih athii to angmah lu nuiah krah nasoe; nangmah hoi na imthung ah kaom kaminawk nuiah, ban ka phok o nahaeloe, anih ih athii to kaihnik nuiah krah nasoe.
19Phàm ai trong các người đó đi ra ngoài cửa nhà nàng, thì huyết người ấy sẽ đổ lại trên đầu người, và chúng ta vô tội; nhưng nếu ai tra tay vào người nào ở cùng nàng trong nhà, thì huyết của người đó sẽ đổ lại trên đầu chúng ta.
20Toe ka sak o han ih hmuen to na taphong nahaeloe, vaihi lok nang kamsak ih lok thung hoiah kaihnik hae loih nasoe, tiah a naa hoi.
20Còn nếu nàng cho lậu việc chúng ta, ắt chúng ta sẽ khỏi mắc lời mà nàng đã bắt chúng ta thề.
21Nongpata mah, Na thuih hoi ih lok baktiah om nasoe, tiah a naa. To pacoengah nongpata mah nihnik to patoeh pongah, nihnik loe a caeh hoi; to pacoengah anih mah tlangqui kathim to thokbuem ah a bangh.
21Nàng bèn đáp: Khá y lời hai ông đã nói. Đoạn, nàng cho hai người đi, và hai người liền đi. Nàng bèn cột sợi chỉ điều nơi cửa sổ.
22Nihnik loe caeh hoi moe, nihnik patom kaminawk amlaem ai karoek to, mae nuiah ni thumto thung oh hoi; nihnik patom kaminawk mah nihnik to loklam boih ah pakrong o, toe hnu o ai.
22Vậy, hai người đi đến núi, ở đó ba ngày cho đến khi những người đuổi theo mình trở về. Mấy người ấy kiếm họ cùng đường, nhưng không gặp.
23To pacoengah nihnik loe mae nui hoiah anghum hoi tathuk moe, amlaem hoi; vapui angkat hoi pacoengah, Nun capa Joshua khaeah a caeh hoi; a hnuk hoi ih hmuennawk boih to anih khaeah thuih pae hoi;
23Hai người do thám bèn đi xuống núi trở về; khi đã qua sông Giô-đanh rồi, thì đến gần Giô-suê, con trai Nun, thuật cho người mọi điều đã xảy ra.
24nihnik mah Joshua khaeah, Angraeng mah prae boih aicae ban ah paek boeh; prae thung kaom kaminawk boih aicae zit o loiah thazok o boih boeh, tiah a thuih pae hoi.
24Hai người nói cùng Giô-suê rằng: Quả thật, Đức Giê-hô-va đã phó cả xứ vào tay chúng ta; và lại, hết thảy dân của xứ đều sờn lòng trước mặt chúng ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.