Isaiah 35
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Praezaek hoi long kasae loe anghoe tih; kapong sut long mah doeh anghoe ueloe, rose pawk baktiah apawk tih.
1Đồng vắng và đất khô hạn sẽ vui vẻ; nơi sa mạc sẽ mừng rỡ, và trổ hoa như bông hường.
2Pop parai ah apawk to ampha ueloe, anghoehaih, oephaih hoiah laa to sah o tih; Lebanon lensawkhaih, Karmel hoi Sharon hoihhaih to anih khaeah paek tih; Angraeng lensawkhaih hoi aicae Sithaw hoihhaih to nihcae mah hnu o tih.
2Nó trổ hoa nhiều và vui mừng, cất tiếng hát hớn hở. Sự vinh hiển của Li-ban cùng sự tốt đẹp của Cạt-mên và Sa-rôn sẽ được ban cho nó. Chúng sẽ thấy sự vinh hiển Đức Giê-hô-va, và sự tốt đẹp của Đức Chúa Trời chúng ta.
3Bantha zokhaih to tha om o sak ah loe, thacak ai khokkhu to thacak o sak ah.
3Hãy làm cho mạnh những tay yếu đuối, làm cho vững những gối run en!
4Zithaih palungthin tawn kaminawk hanah, Thacak oh, zii o hmah, tiah thui pae oh; khenah, na Sithaw loe sak ih zaehaih baktih toengah, lu lak hanah angzo tih; anih loe nang to pahlong hanah angzo tih boeh.
4Hãy bảo những kẻ có lòng sợ hãi rằng: Khá vững lòng, đừng sợ nữa! Đây nầy, Đức Chúa Trời các ngươi sẽ lấy sự báo thù mà đến, tức là sự báo trả của Đức Chúa Trời. Chính Ngài sẽ đến và cứu các ngươi!
5To pacoengah loe mikmaengnawk mik padai o tih, naapang kaminawk doeh naa akhaw o tih boeh.
5Bấy giờ, những kẻ mù sẽ mở mắt, những kẻ điếc sẽ rỗng tai.
6Khokkhaem kaminawk loe sakhi baktiah angphet o tih, lokaa mah doeh laa to sah tih boeh; praezaek ah tui to puek ueloe, long karoem ahmuen ah tui to long tih boeh.
6Bấy giờ, kẻ què sẽ nhảy như con nai, lưỡi kẻ câm sẽ hát. Vì có những dòng nước trào lên trong đồng vắng, và những suối chảy ra trong nơi sa mạc.
7Hmai ah kamngaeh savuet to tuili ah angcoeng ueloe, tui anghae long ah tui to puek tih boeh; tasuinawk ohhaih hoi tabokhaih ahmuen ah phroh, sakrungkung hoi rihkung baktiah kaom akungnawk to amprawk o tih.
7Cát nóng sẽ biến ra hồ, ruộng khô sẽ biến thành suối nước. Hang chó đồng đã ở sẽ trở nên vùng sậy và lau.
8To ah manglaih lampui to om ueloe, Ciimcai Loklam, tiah kawkhaih to om tih; kaciim ai kami loe to lampui to pazui mak ai; minawk kalah hanah ni oh, to loklam ah loe amthu kami mataeng mah doeh lam amkhraeng mak ai.
8Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh. Kẻ nào ô uế sẽ không được đi qua; song nó sẽ dành cho những người được chuộc. Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại cũng không lầm lạc.
9To ah kaipui om mak ai, moisannawk doeh to loklam ah caeh o mak ai, hnuk han mataeng doeh om mak ai; toe akrang ih kaminawk khue ni to ah caeh o tih.
9Trên đường đó không có sư tử, không có một thú dữ nào lên; chẳng ai gặp nó ở đó. Song những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy,
10Angraeng mah akrang ih kaminawk loe amlaem o let ueloe, laa to sah o tih, dungzan anghoehaih lumuek angmuek hoiah Zion ah angzo o tih; nihcae mah anghoehaih hoi oephaih to hnu o tih, palungset khuiqahhaih to om mak ai boeh.
10những kẻ Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ về, ca hát mà đến Si-ôn; sự vui vẻ vô cùng sẽ ở trên đầu họ. Họ sẽ được sự vui vẻ mừng rỡ, mà sự buồn bực than vãn sẽ trốn đi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.