2 Samuel 18
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1David mah a taengah kaom kaminawk to pakoep moe, sangto ukkung hoi cumvaito ukkung kami to suek.
1Đa-vít điểm dân sự đi theo mình, rồi đặt ở trước đầu chúng những trưởng của ngàn người, trưởng của trăm người.
2David mah angmah ih misatuh kaminawk to abu thumto ah tapraek moe, abu maeto loe Joab han uksak, kalah abu maeto loe Zeruiah capa, Joab ih amnawk Abishai han uksak pacoengah, kalah abu thumto haih loe Gith acaeng Ittai hanah uksak. Siangpahrang mah angmah ih misatuh kaminawk khaeah, Kai doeh nangcae hoi nawnto misatuk naah ka caeh toeng han, tiah a naa.
2Người chia dân ra làm ba toán, khiến Giô-áp lãnh một toán, A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, em của Giô-áp, lãnh một toán, còn Y-tai, người Gát, lãnh một toán. Đoạn, vua nói cùng dân sự rằng: Hẳn ta cũng sẽ đi ra với các ngươi.
3Toe kaminawk mah, Nang loe caeh hmah; kaicae ka cawnh o langlacadoeh, misanawk han tidoeh avang mak ai; kami ahap ka duek o cadoeh avanghaih om mak ai; toe nang loe kaicae sang hato kami hoiah anghmong pongah, vangpui thung hoiah tha nang paek to mah khawt boeh, tiah a naa o.
3Nhưng dân sự thưa rằng: Vua chớ đến, vì nếu chúng tôi chạy trốn, thù nghịch sẽ không lấy làm hệ trọng gì, và dẫu đến đỗi phân nửa chúng tôi có chết đi, thì chúng nó cũng không chú ý đến; còn vua, vua bằng một vạn chúng tôi. Vậy thà vua ở trong thành chực sẵn tiếp cứu chúng tôi thì hơn.
4To naah siangpahrang mah nihcae khaeah, Nangcae mah hoih, tiah na poek o ih baktih toengah ka sak han, tiah a naa. To pongah siangpahrang loe vangpui sipae taengah angdoet; to naah kaminawk loe cumvaito abu, sangto abu hoiah caeh o.
4Vua tiếp rằng: Ta sẽ làm điều chi các ngươi lấy làm phải. Vậy, người đứng tại cửa thành trong khi dân sự kéo đi từng toán trăm và ngàn.
5Siangpahrang mah Joab, Abishai hoi Ittai khaeah, Ka mikhmai khethaih hoiah thendoeng Absalom to paquem oh, tiah lok a paek. Siangpahrang mah misatuh angraeng khaeah thuih pae ih lok to misatuh kaminawk boih mah thaih o.
5Vua truyền lịnh nầy cho Giô-áp, A-bi-sai, và Y-tai mà rằng: Hãy vì cớ ta dong cho Aùp-sa-lôm trai trẻ. Cả dân đều nghe lời vua căn dặn cho các trưởng vì Aùp-sa-lôn.
6Kaminawk loe Israel misatuk hanah, Ephraim taw ah caeh o.
6Dân sự kéo ra đồng, đón quân Y-sơ-ra-ên, giao chiến tại trong rừng Eùp-ra-im.
7David ih misatuh kaminawk mah Israel misatuh kaminawk to pazawk o; to na ni misatuk naah dueh kami paroeai pop o, kami sang pumphaeto oh.
7Đạo quân Y-sơ-ra-ên bị các tôi tớ của Đa-vít đánh bại; thật ấy là một trận thua lớn, trong ngày đó chết mất hai vạn người.
8Misatukhaih loe prae boih ah pung; to na niah sumsen hoi hum ih kami pongah taw ah kadueh kami to pop kue.
8Chiến tranh lan khắp miền, và trong ngày đó có nhiều người chết mất trong rừng hơn là chết ở dưới lưỡi gươm.
9Absalom loe David ih tamnanawk hoiah angqum o. Absalom loe mule hrang pongah angthueng moe, kathah parai aqam kabuk oak thing tlim ah caeh naah, a sam to thing tanghang pongah angtang caeng; anih loe long hoi van salakah thing pongah angbang sut; mule hrang mah anih to caeh taak ving.
9Các tôi tớ của Đa-vít gặp Aùp-sa-lôm cỡi một con la; con la lủi vào dưới nhành xỏ rế của cây thông lớn, đầu Aùp-sa-lôm phải vướng trong nhành, và người bị treo giữa khoảng trời đất; còn con la chở người thì thoát đi khỏi.
10Anih to kami maeto mah hnuk naah, Joab khaeah, Khenah, oak thing pongah kangbang sut Absalom to ka hnuk, tiah a naa.
10Có người thấy điều đó, đến nói cùng Giô-áp rằng: Tôi đã thấy Aùp-sa-lôm bị treo trên cây thông.
11To lok thuikung khaeah Joab mah, khenah, anih to na hnuk boeh to mah, tipongah long ah na hum ai loe? Na hum nahaeloe phoisa shekel hato hoi misatukhaih kaengkaeh kang paek han, tiah a naa.
11Giô-áp đáp cùng người rằng: Chi! ngươi có thấy hắn ư? Vậy sao chẳng giết hắn tại chỗ đi? Nhược bằng có giết, ta sẵn lòng thưởng ngươi mười miếng bạc và một cái đai lưng.
12Toe to kami mah Joab khaeah, Phoisa shekel sangto ka ban ah nang paek cadoeh, siangpahrang capa nuiah ban ka phok mak ai. Aicae boih kangthaih ah siangpahrang mah, Mi kawbaktih doeh thendoeng, Absalom to sui o hmah, tiah Nang, Abishai hoi Ittai khaeah, lok ang thuih boeh to loe!
12Nhưng người ấy thưa rằng: Dẫu tôi nắm trong tay một ngàn miếng bạc, cũng chẳng dám tra tay vào vương tử; vì chúng tôi có nghe vua biểu dặn ông, A-bi-sai và Y-tai rằng: Khá giữ lấy, chớ đụng đến chàng Aùp-sa-lôm trai trẻ.
13Ka hinghaih amro hanah katoeng ai hmuen ka sak moeng nahaeloe, siangpahrang hmaa ah angphat thaih koi hmuen tidoeh om ai pongah, nang mah kasae nang net lat tih, tiah a naa.
13Vả lại, nếu tôi lấy lòng bất trung mà giết người, thì chẳng có thể nào giấu được vua; chắc chính ông làm người cáo tôi.
14To naah Joab mah, Nang hoi nawnto ka om khing mak ai, tiah a naa. To pongah anih mah tayae thumto ban ah sinh moe, thing pongah kahingah kangbang Absalom to palung thuemah takhawh puet.
14Giô-áp đáp: Ta chẳng thèm nán ở đây mà nghe ngươi. Người bèn lấy ba cây giáo đâm vào trái tim của Aùp-sa-lôm, đang còn sống ở giữa cây thông.
15Joab ih maiphaw kapu kami hato mah, Absalom to takui o pacoengah, anih to takroek o moe, hum o.
15Đoạn mười kẻ trai trẻ vác binh khí của Giô-áp, vây quanh Aùp-sa-lôm, đánh và giết người đi.
16To naah Joab mah mongkah to uengh, to naah Israel kaminawk misa patomhaih hoiah amlaem o; Joab mah kaminawk to anghaksak.
16Kế đó Giô-áp thổi kèn, dân sự thôi đuổi theo quân Y-sơ-ra-ên, bởi vì Giô-áp cản chúng.
17Absalom to lak o moe, taw thung ih tangqom thungah vah o pacoengah, a nuiah thlung pakhueng o thuih; Israel kaminawk loe angmacae im ah cawnh o boih.
17Người ta lấy thây Aùp-sa-lôm, ném vào trong một cái hố lớn ở giữa rừng, rồi chất đá lên trên người thành một đống lớn. Hết thảy mọi người Y-sơ-ra-ên đều chạy trốn về trại mình.
18Absalom loe hing nathuem ah, capa ka tawn ai pongah, ka hmin anghmat ving han ai ah pakuemkung ka tawn ai, tiah a poek; to pongah siangpahrang ih azawn thungah thlung maeto a tling moe, angmah ih ahmin to sak; to thlung loe vaihni ni khoek to, Absalom mah tling ih thlung ni, tiah thuih o.
18Aùp-sa-lôm lúc còn sống có sai dựng một cái bia ở trong trũng vua; vì người nói rằng: Ta không có con trai đặng lưu danh ta. Rồi người lấy danh mình đặt cho cái bia đó; đến ngày nay người ta hãy còn gọi là bia Aùp-sa-lôm.
19Zadok capa Ahimaaz mah, ka cawnh moe, a misa ban thung hoiah Angraeng mah pahlong boeh, tiah siangpahrang khaeah ka thuih pae han, tiah a poek.
19A-hi-mát, con trai của Xa-đốc, nói cùng Giô-áp rằng: Xin cho phép tôi chạy đem cho vua tin lành nầy rằng Đức Giê-hô-va đã xử công bình và giải cứu người khỏi kẻ thù nghịch mình.
20Joab mah anih khaeah, Vaihniah tamthang na thui mak ai; kalah niah na thui tih hmang; siangpahrang capa duek boeh pongah, vaihniah tamthang na thui mak ai, tiah a naa.
20Giô-áp đáp: Ngày nay ngươi sẽ chẳng làm kẻ đem tin lành, một ngày khác ngươi sẽ làm; ngày nay cái tin chẳng được lành, vì vương tử đã chết.
21To naah Joab mah Kush kami maeto khaeah, Caeh loe, na hnuk ih hmuennawk to siangpahrang khaeah thui paeh, tiah a naa. Kush kami loe Joab hmaa ah akuep pacoengah, cawnh poe.
21Giô-áp bèn nói cùng Cu-si rằng: Hãy đi thuật cho vua điều ngươi đã thấy. Cu-si lạy Giô-áp, rồi chạy đi.
22Zadok capa Ahimaaz mah Joab khaeah, Kawbangah doeh om nasoe, Kush kami hnukah na cawnsak ah, tiah a naa. Toe Joab mah, Ka capa, tangqum hnuk han ih tamthang tidoeh om ai, tipongah cawnh han na koeh khruek loe? tiah a naa.
22A-hi-mát, con trai của Xa-đốc, lại nói cùng Giô-áp rằng: Mặc dầu xảy đến điều chi, hãy để cho tôi chạy theo sau Cu-si. Giô-áp tiếp: Hỡi con, cớ sao con muốn chạy đi? Việc báo tin nầy sẽ chẳng thưởng gì cho con.
23Toe anih mah, Kawbangah doeh om nasoe, na cawnsak ah, tiah a naa. To naah anih mah, Cawn ah, tiah a naa. Ahimaaz loe azawn bang hoiah cawnh pongah, Kush kami hmaa ah phak.
23Người thưa: Mặc dầu, tôi muốn chạy đi. Giô-áp nói cùng người rằng: Hãy chạy đi. Vậy, A-hi-mát chạy qua đồng bằng và bươn tới trước Cu-si.
24To naah David loe khongkha hnetto salakah anghnut; to naah misatoep kami maeto loe tapang bang hoiah sipae khongkha imphu nuiah dawh tahang, anih mah khet naah, angmabueng kacawn kami maeto a hnuk.
24Đa-vít ngồi ở giữa hai cái cửa thành. Còn quân canh trèo lên đỉnh lầu cửa thành, ở trên vách tường, ngước mắt lên, nhìn thấy có một người chạy ên.
25Misatoep kami loe hang moe, siangpahrang khaeah thuih pae. Siangpahrang mah, Angmabueng nahaeloe tamthang kahoih sin tih, tiah a naa. To tiah kacawn kami loe anghnai aep aep.
25Quân canh la lên, và tâu cho vua biết. Vua nói: Nếu hắn một mình, chắc đem tin lành. Người chạy mãi và đi đến gần.
26Misatoep kami mah kalah kami maeto kacawn to a hnuk let bae; misatoep kami mah khongkha toepkung khaeah, Khenah, kalah kami maeto doeh ang cawnh let bae vop, tiah a naa. Siangpahrang mah, Anih doeh tamthang ni sin tih, tiah naa let bae.
26Đoạn quân canh thấy một người khác cũng chạy, bèn la với người giữ cửa mà rằng: Kìa lại có một người chạy ên. Vua nói: Hắn cũng đem tin lành.
27Misatoep kami mah hmaloe ah kacawn kami loe, Zadok capa hoi anghmong, tiah a naa. Siangpaharng mah, anih loe kahoih kami ni; tamthang kahoih ni na sin tih, tiah a naa.
27Quân canh tiếp: Thấy người chạy đầu, giống dạng A-hi-mát, con trai của Xa-đốc. Vua nói: Aáy là một người tử tế, người chắc đem tin lành.
28To naah Ahimaaz mah, siangpahrang khaeah, Tamthang loe hoih boih, tiah a naa. Anih mah siangpahrang hmaa ah long ah akuep moe, Na Angraeng Sithaw loe tahamhoihaih om nasoe; ka angraeng siangpahrang nuiah ban phok kaminawk to Angraeng mah tamit boih boeh, tiah a naa.
28A-hi-mát bèn kêu lên và tâu cùng vua rằng: Mọi sự may mắn! Rồi người sấp mình xuống trước mặt vua, và tâu rằng: Ngợi khen Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài đã giải cứu vua khỏi những kẻ đã phản nghịch cùng vua chúa tôi!
29Siangpahrang mah, Thendoeng Absalom loe ngancuem hmang maw? tiah a naa. To naah Ahimaaz mah, Na tamna Joab mah na tamna kai ang patoeh naah, paroeai lokpunghaih atuennawk to oh; toe tih hmuen maw oh, tiah ka panoek ai, tiah a naa.
29Nhưng vua hỏi rằng: Chàng Aùp-sa-lôm trai trẻ được bình an vô hại chăng? A-hi-mát thưa rằng: Khi Giô-áp sai kẻ tôi tớ vua và chính tôi đi, thì tôi thấy có sự ồn ào dữ dội dấy lên; nhưng tôi chẳng biết là chi.
30Siangpahrang mah, Angqoi ah loe, kalah bangah angdoe ah, tiah a naa. To pongah anih loe angnawn moe, kalah bangah angdoet.
30Vua phán cùng người rằng: Hãy lui ra và đứng tại đó. Người bèn lui ra và chờ.
31To naah Khenah, Kush acaeng to angzoh moe, anih khaeah, Ka angraeng siangpahrang, Tamthang hae tahngai ah; nang tuk hanah misa angthawk kaminawk ban thung hoiah vaihniah Angraeng mah ang pahlong boeh, tiah a naa.
31Cu-si bèn đến, và tâu rằng: Nầy là một tin lành cho vua chúa tôi. Ngày nay Đức Giê-hô-va đã xử công bình cho vua và giải cứu vua khỏi các kẻ dấy lên phản nghịch cùng vua.
32Siangpahrang mah Kush kami khaeah, Thendoeng Absalom loe ngancuem hmang maw? tiah a naa. Kush kami mah, Ka angraeng siangpahrang ih misanawk hoi nang tuk hanah angthawk kaminawk boih loe, to ih thendoeng baktiah oh o boih boeh, tiah a naa.
32Vua nói cùng Cu-si rằng: Chàng Aùp-sa-lôm trai trẻ được bình an vô hại chăng? Cu-si đáp: Nguyện các kẻ thù nghịch vua chúa tôi, và hết thảy những người nào phản nghịch đặng hại vua, bị đồng số phận với người trai trẻ ấy!
33To naah siangpahrang loe tasoehhaih hoiah oh; khongkha ranui ih imkhaan thungah caeh tahang moe, Aw ka capa Absalom; ka capa; ka capa Absalom; Sithaw mah nang zuengah na duehsak halat nahaeloe hoih han to mah; Aw Absalom; ka capa, ka capa, tiah qah.
33Vua rất cảm thương, bèn lên lầu cửa thành và khóc. Người vừa đi vừa nói rằng: Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! Aùp-sa-lôm, con trai ta! con trai ta! Ước chi chính ta chết thế cho con! Oâi, Aùp-sa-lôm! con trai ta! con trai ta!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.