2 Samuel
Chapter 12
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng mah Nathan to David khaeah patoeh; David khaeah caeh moe, anih khaeah, Vangpui thungah kami hnetto oh, maeto loe angraeng moe, maeto loe amtang.
1Đức Giê-hô-va sai Na-than đến cùng Đa-vít. Vậy, Na-than đến cùng người mà rằng: Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo.
2Angraeng kami loe tuu hoi maitaw paroeai tawnh;
2Người giàu có chiên bò rất nhiều;
3toe kamtang kami loe minawk khaeah qan ih tuu tala maeto khue ai ah loe kalah tidoeh tawn ai; to tuu to anih mah pacah, tuu loe a caanawk hoi nawnto qoeng o tahang; tuu loe pacahkung ih buh to caak moe, anih mah naek ih tui to naek toeng; pacahkung ih ban ah iih pongah, canu baktiah a khet.
3nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy.
4Angvin maeto angraeng im ah angzoh, toe angraeng loe angvin pacah hanah angmah ih tuu hoi maitawnawk to paawt pongah, kamtang kami ih tuu caa to lak pae moe, angmah khaeah angzo vangvin caak hanah boh pae, tiah a naa.
4Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình.
5To naah David loe to tiah kaom kami nuiah paroeai palungphui moe, Nathan khaeah, Angraeng loe hing baktih toengah, to baktih hmuen sah kami loe duek han oh!
5Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đđng chết!
6Tahmenhaih tawn ai ah to baktih hmuen to a sak pongah, tuu caa alet palito laemsak han oh, tiah a naa.
6Hắn phải thường bốn lần giá chiên conkhông có lòng thương xót.
7To naah Nathan mah David khaeah, To kami loe nang ni! Israel Angraeng Sithaw mah, Israel nuiah siangpahrang ah situi kang bawh moe, Saul ban thung hoiah kang pahlong;
7Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ.
8na angraeng ih im to nang hanah kang paek, na angraeng ih zunawk to na ban ah kang paek, Israel hoi Judah imthung takoh to kang paek; hae hmuen hae zetta, tiah na poek nahaeloe, to baktih kalah hmuennawk doeh kang paek let bae han vop, tiah thuih.
8Ta cũng ban cho ngươi nhà của chủ ngươi, trao vào tay ngươi các vợ của chủ ngươi, lập ngươi làm vua của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và nếu điều đó không đủ, ắt ta sẽ thêm cho ơn khác nữa.
9Tipongah a mikhnukah kahoih ai hmuen na sak moe, Angrang mah paek ih lok na patoek loe? Sumsen hoiah Hit acaeng Uriah to na hum moe, a zu to na lomh pae; Ammon kaminawk ih sumsen hoiah anih to na hum.
9Cớ sau ngươi đã khinh bỉ lời của Đức Giê-hô-va, mà làm điều không đẹp lòng Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi, còn nó thì ngươi đã giết bởi gươm của dân Am-môn.
10Ka lok tidoeh na sah ai moe, Hit kami Uriah ih zu to na lomh pongah, sumsen mah vaihi na imthung takoh to caehtaak mak ai boeh.
10Nên bây giờ, gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi, bởi vì ngươi đã khinh ta, cướp vợ U-ri, người Hê-tít, đặng nàng làm vợ ngươi.
11Angraeng mah, Khenah, na imthung takoh thung hoiah sethaih ka tacawtsak han; na mikhnukah na zunawk to ka lak moe, na imtaeng kami khaeah ka paek han; anih mah na zunawk to khodai ah iip haih tih.
11Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ khiến từ nhà ngươi nổi lên những tai họa giáng trên ngươi; ta sẽ bắt các vợ ngươi tại trước mắt ngươi trao cho một người lân cận ngươi, nó sẽ làm nhục chúng nó tại nơi bạch nhựt.
12Nang mah hae hmuen hae tamquta hoiah na sak, toe kaimah loe to hmuen to Israel kaminawk boih mikhnukah, khodai ah ka sak han, tiah thuih, tiah a naa.
12Vì ngươi đã làm sự kia cách kín nhiệm, nhưng ta sẽ làm việc nầy trước mặt cả Y-sơ-ra-ên và tại nơi bạch nhựt.
13To naah David mah Nathan khaeah, Angraeng hmaa ah ka zae moeng boeh, tiah a naa. To naah Nathan mah, Angraeng mah na zaehaih lak ving boeh pongah, na dueh mak ai.
13Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu.
14Toe hae tiah na sak ih hmuen mah, Angraeng ih misanawk hanah kasaethuihaih loklam na paek pongah, na sak ih na caa loe dueh tih, tiah a naa.
14Nhưng vì việc nầy vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài, nên con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết.
15Nathan loe anih im hoiah tacawt. Uriah zu mah David hanah sak pae ih, a capa to Angraeng mah boh pongah, nawkta loe ngannat nung parai.
15Đoạn, Na-than trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va bèn đánh đứa trẻ mà vợ của U-ri đã sanh cho Đa-vít, và nó bị đau nặng lắm.
16To pongah David mah nawkta han Sithaw khaeah tahmenhaih hnik; David loe imthung ah caeh moe, buhzah; aqum puek long ah angsong.
16Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn; đoạn, người trở vào nhà, trọn đêm nằm dưới đất.
17A imthung ih kacoehtanawk mah, anih to pathawk hanah, ataeng ah caeh o; toe anih mah angmak pae; nihcae hoi buh nawnto caa pae ai.
17Các trưởng lão trong nhà chổi dậy đứng chung quanh người đặng đỡ người lên khỏi đất; nhưng người không khứng, và chẳng ăn với họ.
18Ni sarihto naah loe nawkta to duek; David ih tamnanawk mah anih khaeah nawkta loe duek boeh, tiah thuih pae hanah zit o; nihcae mah, Khenah, nawkta hing nathuem ah mataeng doeh, anih khaeah thuih pae ih lok to anih mah tahngai han koeh ai; nawkta loe duek ving boeh, tiah thui pae o nahaeloe, angmah hoi angmah to zit kaom hmuen sah lat moeng doeh om tih, tiah a thuih o.
18Ngày thứ bảy đứa trẻ chết. Các tôi tớ của Đa-vít ngại cho người biết đứa trẻ đã chết; vì họ nói rằng: Lúc đứa trẻ còn sống, chúng tôi có khuyên giải vua, vua không khứng nghe chúng tôi; vậy làm sao chúng tôi lại dám nói cùng vua rằng đứa trẻ đã chết? Có lẽ vua rủi ro!
19A tamnanawk mah tamquta hoiah thuih o ih lok to David mah hnuk naah, nawkta loe duek boeh, tiah panoek. To pongah David mah a tamnanawk khaeah, nawkta loe duek boeh maw? tiah a dueng. Nihcae mah, Ue, nawkta loe duek ving boeh, tiah a naa o.
19Nhưng Đa-vít thấy những tôi tớ nó nhỏ nhỏ, hiểu rằng đứa trẻ đã chết, nên hỏi rằng: Có phải đứa trẻ đã chết chăng? Họ thưa: Phải, đã chết rồi.
20To naah David loe long hoiah angthawk, tui amthluk moe, hmuihoih tui to angnok; khukbuen to angkraih moe, Angraeng imthung ah caeh pacoengah, Angraeng to bok; to pacoengah angmah im ah caeh moe, buhcaak hanah a hnik; a tamnanawk mah caaknaek to patoem pae o moe, a caak.
20Bấy giờ, Đa-vít chờ dậy khỏi đất, tắm mình, xức dầu thơm, và thay quần áo; rồi người đi vào đền của Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Đoạn, người trở về cung, truyền dọn vật thực cho mình, và người ăn.
21A tamnanawk mah, Tikhoe hae tiah na oh loe? Nawkta hing nathung ah buh na zah moe, na qah; nawkta duek naah loe, nang thawk moe, buh aan to na caak lat, tiah a naa o.
21Các tôi tớ hỏi người rằng: Vua làm chi vậy? Khi đứa trẻ nầy còn sống, vua kiêng ăn và khóc vì nó; và bấy giờ, nó đã chết vua chờ dậy và ăn!
22Anih mah, Nawkta hing let thai hanah, Sithaw mah kai na tahmen tih maw, tahmen mak ai, tiah mi mah doeh panoek ai, to pongah nawkta hing nathung ah buh ka zah moe, ka qah, tiah a naa.
22Vua đáp: Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho đứa trẻ được sống chăng.
23Toe vaihi nawkta loe duek boeh; tih han ih buh ka zah han vop loe? Anih to ka hingsak let thai tih maw? Anih khaeah ni kai ka caeh han; toe anih loe kai khaeah amlaem let mak ai boeh, tiah a naa.
23Nhưng bây giờ nó đã chết, ta kiêng ăn làm chi? Ta có thế làm cho nó trở lại ư? Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta.
24To naah David mah a zu Bethsheba to pathloep; to pacoengah ataeng ah caeh moe, a iih haih; anih mah capa maeto sak pae let; anih ih ahmin to Solomon, tiah sak. Anih loe Angraeng mah palung.
24Đa-vít an ủi Bát-sê-ba, vợ mình, đến ngủ cùng nàng; nàng sanh một đứa trai, đặt tên là Sa-lô-môn. Đức Giê-hô-va yêu mến Sa-lô-môn,
25Angraeng mah anih to palung pongah, Jedidiah, tiah ahminphui hanah tahmaa Nathan khaeah lokpaek.
25nên Ngài sai đấng tiên tri Na-than đến đặt tên cho nó là Giê-đi-đia, vì Đức Giê-hô-va yêu mến nó.
26To naah Joab mah Ammon kaminawk ih Rabbah vangpui to tuk moe, siangpahrang ohhaih vangpui to lak.
26Giô-áp đánh Ráp-ba của dân Am-môn, và hãm lấy đế đô.
27To naah Joab mah David khaeah laicaeh patoeh moe, Rabbah vangpui to ka tuk pacoengah, vangpui mah caak ih tui to ka lak boeh.
27Người sai sứ giả đến cùng Đa-vít mà nói rằng: Tôi có đánh Ráp-ba và hãm lấy thành ở mạn dưới rồi.
28To pongah vaihi anghmat kaminawk to kok ah, vangpui to tuh loe, laa ah; to tih ai nahaeloe, vangpui to ka lak moe, kaimah ih ahmin ka sak han boeh, tiah a naa.
28Bây giờ, vua hãy nhóm hiệp chiến sĩ còn lại, đến đóng trước thành và chiếm lấy nó, kẻo tôi hãm lấy nó thì công đó về tôi chăng.
29To pongah David mah kaminawk boih to kok moe, Rabbah vangpui tuk hanah caeh moe, a lak.
29Vậy, vua Đa-vít nhóm hiệp cả dân sự, kéo đến đánh Ráp-ba, vây và hãm lấy nó.
30Nihcae siangpahrang lu nui ih angraeng lumuek to lak pae o moe, David lu nuiah angmuek o sak; vangpui thung ih paroeai hmuennawk to lak pae o.
30Người lột cái mão triều thiên của vua dân Am-môn đội trên đầu; mão đó cân nặng một ta-lâng vàng, có trang sức những bửu thạch; Đa-vít đặt nó ở trên đầu mình. Người cũng đoạt lấy rất nhiều của cải thành mà đem đi.
31To ah kaom kaminawk to caeh haih moe, sarang hoi sak han koi kaom tok, cakaa hoi sak han koi kaom tok, sum aahhaih bang ih toknawk to a paek moe, amlai long sakhaih ahmuen ah toksaksak. Vangpui ih kaom Ammon kaminawk boih to tiah tok saksak. To pacoengah David hoi angmah ih kaminawk boih Jerusalem ah amlaem o.
31Người điệu dân sự ở thành ấy ra, bắt chúng phải làm công dịch bằng cưa, bừa sắt, rìu sắt, và lò gạch; người cũng đãi hết thảy thành của dân Am-môn như vậy. Đoạn, Đa-vít và cả dân sự đều trở về Giê-ru-sa-lem.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.