1 Peter
Chapter 2

1 Peter

Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tahmenhaih hoiah kakoi Sithaw to na pataengh o boeh pongah, sethaihnawk, alinghaihnawk, angsakcophaih,
1Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian giảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành,
2uthaih hoi loksae apaehhaihnawk to takhoe o boih ah loe, tapen kangtha nawkta baktih toengah,
2thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn,
3kaciim tahnutui Sithaw lok to koeh oh, to tiah ni na qoeng o thai tih.
3nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào.
4Kaminawk mah pahnawt o sut, toe Sithaw mah qoih ih atho kaom, kahing thlung khaeah nang zoh o pongah,
4Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời,
5nangcae doeh Muithla qoeng hanah im sakhaih kahing thlung baktih, ciimcai qaima baktiah na oh o boeh moe, Jesu Kri rang hoiah Sithaw mah talawk ih muithla angbawnhaih hmuen tathlang kami ah na oh o toeng boeh.
5và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời.
6To pongah Cabu thungah doeh, Khenah, atho kaom qoih ih im takii ih thlung to Zion mae nuiah ka suek: anih tang kami loe azathaih tong mak ai, tiah oh.
6Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ.
7To pongah tanghaih tawn nangcae hanah, anih loe kating ai atho oh: toe tang ai kaminawk hanah loe atho om ai, Im sah kaminawk mah pahnawt o sut ih thlung loe, kalen koek im takii ih thlung ah oh boeh,
7Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, Bèn trở nên đá góc nhà, là Đá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã;
8lok tahngai ai kaminawk hanah loe amthaekhaih thlung hoi amtimhaih lungsong ah oh.
8họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Đạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi.
9Toe vinghaih thung hoi aanghaih thungah kakawk, Anih to na pakoeh o thai hanah, nangcae loe qoih ih kami, siangpahrang ih qaima toksah kami, kaciim acaeng, pahoe ih kami ah na oh o:
9Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài;
10canghniah loe anih ih kami ah na om o ai, toe vaihi loe Sithaw kami ah na oh o boeh: canghniah loe anih palungnathaih to na hnu o ai, toe vaihi loe a palungnathaih to na hnuk o boeh.
10anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.
11Palung ih kaminawk, Angvin hoi kholong caeh kami baktiah na oh o pongah, hinghaih pakhra misa ah kaom taksa koehhaih hmuennawk to ayae hanah kang pacae o;
11Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.
12nihcae mah nangcae to kahoih ai hmuen sah kami ah poek o cadoeh, aicae khae Sithaw angzoh na niah, nihcae mah na sak o ih kahoih hmuen to hnuk o thai hanah, Gentelnawk salakah kahoih tuinuen hoiah khosah oh.
12phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, hầu cho họ là kẻ vẫn gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành anh em, thì đến ngày Chúa thăm viếng, họ ngợi khen Đức Chúa Trời.
13Angraeng koehhaih baktiah, ukkungnawk tlim ah khosah oh; kasang koek siangpahrang maw,
13Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao,
14to tih ai boeh loe kasae hmuen sah kaminawk to danpaek moe, kahoih hmuen sah kaminawk pakoeh hanah, kaminawk uk hanah Anih mah patoeh ih, ukkungnawk tlim ah khosah oh.
14hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành.
15Tidoeh panoek ai kamthunawk to na ngam o sak duem hanah, hmuen kahoih sak hanah Sithaw mah koeh haih.
15Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời.
16Na loih o boeh, toe to loihhaih to zae sak aephaih bangah patoh ai ah, Sithaw ih tamna ah om oh.
16Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời.
17Kami boih khingya oh. Nawkamyanawk to palung oh. Siangpahrang to khingya oh.
17Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua.
18Tamnanawk, zithaih hoiah nangmacae ukkungnawk khaeah angpaek oh; kahoih moe, poeknaem ukkungnawk khae khue ah na ai, poek kaham ukkungnawk khaeah doeh angpaek oh.
18Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy lấy lòng rất kính sợ mà phục theo chủ mình, chẳng những phục những chủ hiền lành mà thôi, lại phải phục người chủ khó tánh nữa.
19Sithaw poekhaih tawnh pongah, sakpazaehaih om ai ah pacaekthlaekhaih hoi patangkhanghaih tongh kami loe pakoeh han krak.
19Vì nhân cớ lương tâm đối với Đức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước.
20Hmuen na sakpazae o pongah ang boh o naah, palung na sawk o nahaeloe, pakoehhaih timaw na hnu o tih? Toe kahoih hmuen na sak o naah raihaih na tong o nahaeloe, palungsawkhaih hoiah pauep oh, Sithaw hmaa ah talawk thaikoi hmuen ah ni oh.
20Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời.
21Hae tiah oh han ih ni ang kawk o: Kri doeh aicae hanah patangkhang toeng, anih ih khok tangkanh na pazui o hanah, aicae khet koi kaom ah a sak boeh:
21anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài;
22Anih loe zaehaih sah ai, Anih pakhaa ah amsawnlok thuihaih om ai:
22Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá;
23minawk mah anih kasae thuih o naah, anih mah kasaethuihaih hoiah pathok let ai; anih patangkhang naah, minawk to pazih ai; toe katoengah lokcaekkung khaeah angmah hoi angmah to angpaek:
23Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình;
24zae pongah duek han kaom kaminawk toenghaih hoiah hing o thai hanah, aicae zaehaih to a tak pum hoiah phawh moe, thinglam nuiah angbangh: anih ih kana ahmaa rang hoiah nangcae ngan na tui o.
24Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh.
25Nangcae loe lam kamkhraeng tuu baktiah na oh o; toe vaihi loe nangcae ih pakhra khenzawnkung hoi tuutoepkung khaeah nam laem o let boeh.
25(2-24) Vì anh em vốn giống như con chiên lạc, mà bây giờ đã trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.