1Peter
Chapter 2

1Peter

Baibal Olcim (Matupi Chin)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

1Peter 2

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Te dongah phayoenah boeih khaw, tuengkhuepnah neh thailatnah boeih khaw, uethnetnah neh olthaekaling boeih hnawt uh laeh.
1Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian giảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành,
2Cahni thangpaek rhoek bangla, mueihla suktui tang te ngaidam uh lah. Te daengah ni te nen te khangnah dongah na rhoeng uh eh.
2thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn,
3Boeipa tah kodam la na ten uh atah,
3nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào.
4hlang loh a hnawt coeng ngawn dae Pathen taengah a khoelh la a coelh aka hing lungnu te paan uh.
4Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời,
5Nangmih khaw aka hing lungto bangla a cim khosoih la om ham mueihla im te sa uh. Jesuh Khrih rhangneh Pathen taengah a uem la mueihla hmueih te khuen uh.
5và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời.
6Cacim khuiah a hulh coeng ta. Zion kah imkil lung te a khoelh la ka coelh tih ka tloeng ke. Te dongah anih soah aka pangtung tah yahpok loengloeng mahpawh.
6Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ.
7Te dongah aka tangnah nangmih tah hinyahnah om pai. Tedae hnalval rhoek aih, te lungto te aka sa loh rhoek hnawt cakhaw imkil lu la poeh. Te dongah caehkoek lung neh thangkui lungpang la poeh.
7Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, Bèn trở nên đá góc nhà, là Đá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã;
8U khaw olka aka aek long tah a tongtah ham ni tekah te khaw a khueh.
8họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Đạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi.
9Tedae nangmih tah a coelh namtu, mangpa khosoih, namtu cim, dangnah dongkah pilnam ni. Te daengah ni yinnah lamkah nangmih te amah kah aka khuet vangnah khuila aka khue taengah boethen na tueng eh.
9Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài;
10Hnukbuet kah a pilnam pawt te Pathen kah a pilnam la na om uh coeng. A rhen mueh te n'rhen coeng .
10anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.
11Thintlo rhoek aw, te pumsa hoehhamnah te rhael ham yinlai neh lampah bangla nangmih kan hloep. Te tah hinglu dongkah vathoh banghui la om.
11Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.
12Nangmih kah omih te namtom taengah a then la khueh uh. Te daengah ni laihmu bangla nangmih n'yan vaengah khoboe then aka hmu rhoek loh hiphoelnah khohnin ah Pathen te a thangpom uh eh.
12phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, hầu cho họ là kẻ vẫn gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành anh em, thì đến ngày Chúa thăm viếng, họ ngợi khen Đức Chúa Trời.
13Boeipa kongah tah suentae hlanghing boeih, tanglue manghai taengah khaw boengai uh.
13Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao,
14Laihmu te kutthungnah ham neh boethen te koehnah ham ni amah lamloh khoboei rhoek khaw a tueih.
14hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành.
15Malkoelh-maldang hlang ang rhoek paa sak ham a thensai he Pathen kah kongaih tangloeng coeng ni.
15Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời.
16Te dongah poenghalnah he phayoenah kah muekdahnah la om boel saeh lamtah Pathen kah sal rhoek bangla aka loeih la om uh.
16Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời.
17Hlang boeih te hinyah lah. Manuca te lungnah. Pathen te rhih uh lamtah manghai te hinyah uh.
17Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua.
18Imkhut rhoek, a cungkuem ah boengai uh lamtah boeikung te rhihnah khueh uh. Boethen neh kodo taeng bueng ah pawt tih vilvak rhoek taengah khaw birhih lah.
18Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy lấy lòng rất kính sợ mà phục theo chủ mình, chẳng những phục những chủ hiền lành mà thôi, lại phải phục người chủ khó tánh nữa.
19Pathen kah mingcimnah kongah khat khat loh kothaenah a yook tih a patang dahlawt atah te te lungvatnah la a om pah.
19Vì nhân cớ lương tâm đối với Đức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước.
20Na tholh tih m'phop vaengah na ueh uh koinih balae a uem eh? Tedae a then tih patang na ueh uh koinih ta, te ni Pathen taengah lungvatnah aka om.
20Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời.
21Khrih khaw nangmih ham a patang dongah ni te ham te n'khue. A kholaeh te rhoih hamla nangmih kah awtkoi la a khueh coeng.
21anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài;
22Anih tah tholhnah khaw saii pawt tih a ka dongah tuengkhuepnah khaw phoe pawh.
22Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá;
23Ol aka bai te thuung pawh. A patang vaengah hihham pawh. Tedae laitloek aka tiktam vik te a voeih uh.
23Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình;
24Amah loh mamih kah tholhnah te thing dongkah amah pum dongah a khuen coeng. Te daengah ni tholhnah dongah aka duek loh duengnah dongah n'hing uh eh. Amah kah boengha lamloh na hoeih uh coeng.
24Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh.
25Tu bangla na om uh dongah na taengphael uh. Tedae tudawn neh na hinglu hiphoelkung taengla na bal uh coeng.
25(2-24) Vì anh em vốn giống như con chiên lạc, mà bây giờ đã trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.