Xa
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Lại có lời của Đức Giê-hô-va vạn quân phán cùng ta rằng:
1A HIKI hou mai la ka olelo a Iehova o na kaua, i mai la,
2Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Ta đã nổi ghen vì Si-ôn bởi một cơn ghen lớn, ta đã nổi ghen vì nó bởi cơn tức giận lớn.
2Penei ka Iehova o na kaua e olelo mai nei, I lili no au ia Ziona me ka manao nui, A i lili hoi au nona me ka inaina nui.
3Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã xây lại cùng Si-ôn, và ta sẽ ở giữa Giê-ru-sa-lem; Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là thành chơn thật; núi của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ được gọi là núi thánh.
3Ke olelo mai nei Iehova penei, Ua hoi mai nei au i Ziona, a e noho auanei au iwaena o Ierusalema; A e kapaia o Ierusalema, he kulanakauhale no ka oiaio, A o ka mauna o Iehova o na kaua, he mauna hoano.
4Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Sẽ còn có những ông già, bà già ở trong các đường phố Giê-ru-sa-lem, ai nấy sẽ cầm gậy nơi tay, vì cớ mình cao tuổi.
4Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua, Ma ia hope e noho na elemakule a me na luwahine ma na kuamoo o Ierusalema, A e lawe kela kanaka keia kanaka i kona kookoo ma kona lima no ka nui o na la;
5Các đường phố trong thành sẽ đầy những con trai con gái vui chơi trong đó.
5A e paapu na kuamoo o ua kulanakauhale nei i na keikikane, A me na kaikamahine e paani ana ma na alanui ona.
6Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong những ngày đó, dầu những sự ấy coi như lạ lùng cho mắt của dân sót nầy, song há lạ lùng cho mắt ta sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
6Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua penei, Ina he paakiki keia imua o keia koena kanaka i kela manawa, He mea paakiki hoi anei ia imua o'u? Wahi a Iehova o na kaua.
7Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ giải cứu dân ta từ phương đông phương tây,
7Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua, Aia hoi, e hoopakele auanei au i o'u poe kanaka, Mai ka aina hikina mai, a mai ka aina komohana mai:
8và đem chúng nó đến, chúng nó sẽ ở giữa Giê-ru-sa-lem, làm dân của ta, còn ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó trong sự chơn thật và công bình.
8A e alakai mai au ia lakou, e noho lakou iwaena o Ierusalema: E lilo mai no lakou i kanaka no'u, A owau auanei ko lakou Akua ma ka oiaio a ma ka pono.
9Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Các ngươi là kẻ, đương những ngày nầy, nghe các lời ấy từ miệng các tiên tri trong ngày mà nhà Đức Giê-hô-va vạn quân, tức là đền thờ, đã được lập nền để xây lên, thì các ngươi khá làm tay mình nên mạnh.
9Ke olelo mai nei o Iehova o na kaua penei, E hooikaika i ka oukou mau lima, E ka poe lohe i keia mau la ia mau olelo, Ma ka waha o na kaula, O ka poe e noho ana i ka wa i hookumuia'i ka hale o Iehova o na kaua, I kukuluia'i ka luakini.
10Vì chưng trước những ngày đó chẳng có tiền công cho người ta, cũng chẳng có tiền công cho thú vật; và vì cớ kẻ cừu địch, thì chẳng có sự bình an cho kẻ ra người vào; vì ta đã khiến mọi người ai nầy nghịch cùng kẻ lân cận mình.
10No ka mea, mamua o ia mau la, Aole i loaa i ke kanaka ka uku, Aole hoi he uku no ka holoholona; Aole hoi i maluhia ka mea i hele aku iwaho a i hoi mai iloko, no ka enemi; No ka mea, hookuee aku la au i na kanaka a pau i ko lakou mau hoalauna.
11Nhưng bây giờ ta sẽ không đãi những kẻ sót lại của dân nầy như trước, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
11Aka, i neia manawa, aole au e hana aku i keia koena kanaka, E like me ka'u i na la mamua, wahi a Iehova o na kaua.
12Vì ở đó sẽ có hột giống bình an; cây nho sẽ sanh trái, và đất sẽ sanh hoa lợi, các từng trời sẽ sa móc xuống, ta sẽ làm cho những kẻ sót lại của dân nầy được hưởng mọi sự đó.
12No ka mea, e maluhia ka hua kanu, A e hua mai ke kumuwaina i kona hua, A e hooulu mai hoi ka honua i kana mea ulu, A e haawi mai hoi ka lani i kona hau, A e haawi auanei au i keia mau mea a pau no keia koena kanaka.
13Hỡi nhà Giu-đa và nhà Y-sơ-ra-ên! sẽ xảy ra như các ngươi đã làm sự rủa sả trong các nước thể nào, thì ta sẽ cứu các ngươi, và các ngươi sẽ làm sự chúc phước thể ấy. Các ngươi chớ sợ hãi, song hãy làm cho tay mình nên mạnh!
13No ka mea, me oukou i hoinoia iwaena o ko na aina e, E ka ohana a Iuda, a me ka ohana a Iseraela, Pela no au e hoola ai ia oukou, a e hoopomaikai ia oukou; Mai makau oukou, e hooikaika hoi i ko oukou mau lima.
14Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Như ta đã toan giáng tai vạ cho các ngươi, khi tổ phụ các ngươi chọc giận ta, và ta không ăn năn, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy,
14No ka mea, penei ka olelo ana mai a Iehova o na kaua, Me ka'u i manao ai e hoopai aku i ko oukou hewa, I ka wa o ko oukou mau makua i hoonaukiuki mai ai ia'u, wahi a Iehova o na kaua, Aole hoi au i hoololi hou i ka manao;
15thì ngày nay cũng vậy, ta lại đã toan làm ơn cho Giê-ru-sa-lem và cho nhà Giu-đa: các ngươi chớ sợ chi!
15Pela hoi, manao iho au i neia mau la, E lokomaikai aku ia Ierusalema, A i ka ohana a Iuda; mai makau oukou.
16Nầy là những sự các ngươi phải làm: Ai nấy khá lấy điều thật nói cùng kẻ lân cận mình; hãy làm sự chơn thật và sự phán xét bình an trong cửa thành các ngươi.
16Eia na mea a oukou e hana'i; E olelo oiaio aku kela kanaka keia kanaka i kona hoalauna; A e hookolokolo ma ka oiaio, a ma ka mea e malu ai iloko o na ipuka o oukou.
17Chớ toan sự dữ trong lòng nghịch cùng kẻ lân cận; và chớ ưa sự thề dối, vì ấy đó là những điều mà ta ghét, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Mai manao ino aku kekahi o oukou i kona hoalauna maloko o ko oukou naau: Mai makemake hoi i ka hoike wahahee ana: No ka mea, o keia mau mea o pau ka'u e inaina nei, wahi a Iehova.
18Đoạn, có lời của Đức Giê-hô-va vạn quân phán cùng ta, mà rằng:
18Hiki mai la hoi ka olelo a Iehova i o'u nei, i ana mai,
19Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Sự kiêng ăn về tháng tư, sự kiêng ăn về tháng năm, sự kiêng ăn về tháng bảy, sự kiêng ăn về tháng mười sẽ làm sự vui mừng hớn hở, và ngày lễ vui chơi cho nhà Giu-đa. Vậy hãy ưa sự chơn thật và bình an.
19Penei ka Iehova a na kaua e olelo nei, O ka hookeai ana o ka malama aha, me ka hookeai ana o ka alima. Me ka hookeai ana o ka ahiku, a me ka hookeai ana o ka umi, E lilo ia i mea olioli a me ka hauoli, A i mau ahaaina olioli i ka ohana a Iuda; Nolaila e makemake oukou i ka oiaio a me ke kuikahi
20Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Sẽ xảy ra các dân và dân cư nhiều thành đều đến,
20Penei ka olelo ana a Iehova o na kaua, Ma ia hope aku no, E hele mai ai na kanaka, A me na kamaaina o na kulanakauhale he nui;
21và dân cư thành nầy đi đến thành khác mà nói rằng: Chúng ta hãy đi mau, đặng nài xin ơn Đức Giê-hô-va, và tìm kiếm Đức Giê-hô-va vạn quân; ta cũng sẽ đi.
21A e hele aku na kamaaina o kekahi wahi i kekahi, me ka i aku, E haele pu kakou e pule imua o Iehova, A e imi aku ia Iehova o na kaua: Owau hoi kekahi e hele.
22Như vậy có nhiều dân và nhiều nước mạnh sẽ đến tìm kiếm Đức Giê-hô-va vạn quân tại Giê-ru-sa-lem, và ở đó nài xin ơn Đức Giê-hô-va.
22A e hele mai na kanaka he nui loa, A me na lahuikanaka ikaika, E imi ia Iehova o na kaua ma Ierusalema, A e pule imua o Iehova.
23Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Sẽ xảy ra trong những ngày đó, có mười người từ mọi thứ tiếng trong các nước ra, nắm chặt vạt áo của một người Giu-đa, mà nói rằng: Chúng ta sẽ đi cùng các ngươi, vì chúng ta có nghe rằng Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
23Penei ka olelo ana mai o Iehova o na kana, ia manawa, E lalau mai na kanaka he umi no na lahuikanaka o na olelo a pau, E lalau mai auanei lakou i ke kapa o ke kanaka Iudaio, Me ka i ana mai, E hele pu makou me oe; No ka mea, ua lohe makou, me oe pu no ke Akua.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.