A-gai
Chapter 2

A-gai

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ngày hai mươi mốt tháng bảy có lời của Đức Giê-hô-va phán ra bởi đấng tiên tri A-ghê mà rằng:
1Khrah sarihto haih, ni pumphaeto pacoeng, nito naah, Tahmaa Haggai khae hoi Angraeng ih lok to angzoh;
2Bây giờ hãy nói cùng Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ Giu-đa, và Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, và dân sự sót lại, bảo chúng nó rằng:
2Shealtiel capa, Judah prae ukkung, Zerubbabel hoi Jehosadak capa, kalen koek qaima Joshua hoi anghmat kaminawk khaeah,
3Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao?
3canghni ah hae im lensawkhaih hnu kami na oh o vop maw? Vaihi loe kawbang maw na hnuk o boeh? Na khet o naah canghni ih lensawkhaih hoiah patah han koi timaw oh?
4Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc; vì ta ở cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
4Toe Aw Zerubbabel, vaihi na thacaksak ah, tiah Angraeng mah thuih; Jehosadak capa, kalen koek qaima Joshua hoi prae thungah kaom nangcae ih kaminawk boih, na thacak o sak loe, tok to sah oh, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih. Kai loe nangcae hoi nawnto oh:
5Lời giao ước mà ta lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi: chớ sợ hãi.
5Izip prae thung hoiah nang zoh o naah, nangcae hoi lokmaihaih ka sak ih baktih toengah, ka Muithla nangcae salakah oh: zii o hmah, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
6Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Còn một lần, khỏi ít lâu nữa, ta sẽ làm rúng động các từng trời và đất, biển và đất khô.
6Misatuh kaminawk ih Angraeng mah hae tiah thuih; nawnetta oh pacoengah, van hoi long, tuipui hoi saoengnawk to vaito ka huenh han vop;
7Ta cũng làm rúng động hết thảy các nước, và những sự ước ao của các nước hầu đến; rồi ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy nhà nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
7prae kaminawk to ka huenh boih han, prae kaminawk boih mah koeh o ih hmuen to angzo tih: to naah hae im hae lensawkhaih hoiah ka koisak han, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
8Bạc là của ta, vàng là của ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
8Sum kanglung loe kai ih hmuen ah oh, sui doeh kai ih ni, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih:
9Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy; và ta sẽ ban sự bình an trong chốn nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
9hnukkhuem ah sak ih hae im lensawkhaih loe canghni ih lensawkhaih pongah len kue tih, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih: hae ahmuen ah monghaih ka paek han, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
10Ngày hai mươi bốn tháng chín về năm thứ hai của Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán ra bởi đấng tiên tri A-ghê, mà rằng:
10Darius siangpahrang ah ohhaih saning hnet, khrah takawt, ni pumphae palito naah, Tahmaa Haggai khaeah Angraeng ih lok to angzoh,
11Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Bây giờ hãy hỏi các thầy tế lễ về luật pháp rằng:
11misatuh kaminawk ih Angraeng mah hae tiah thuih; Sithaw lok mah timaw thuih, tito qaimanawk khaeah dueng oh,
12Nếu có kẻ gói thịt thánh trong chéo áo, và chéo áo mình đụng đến bánh, hoặc vật gì nấu chín, hoặc rượu, hoặc dầu, hay là đồ ăn gì, thì vậy đó có nên thánh không? Các thầy tế lễ đều đáp rằng: Không.
12kami maeto mah kaciim ah sin ih moi to angmah ih kahni hoiah tapawk, a tapawk ih kahni hoiah takaw maw, moi maw, misurtui maw, situi maw, to tih ai boeh loe kawbaktih caaknaek maw sui nahaeloe ciim tih maw? tiah dueng oh, tiah a naa. To naah qaimanawk mah, Ciim mak ai, tiah a pathim pae o.
13A-ghê lại rằng: Nếu ai bị ô uế vì thây chết đụng đến các vật ấy, thì các vật ấy có lây ô uế không? Các thầy tế lễ trả lời rằng: Các vật ấy sẽ bị ô uế.
13To pacoengah Haggai mah, Kadueh qok sui kami maeto mah hae ih hmuennawk hae sui nahaeloe ciimcai ai ah om mak ai maw? tiah a naa. To naah qimanawk mah ciimcai ai ah ni om tih, tiah pathim pae o.
14A-ghê bèn nói rằng: Đức Giê-hô-va phán: Dân nầy nước nầy ở trước mặt ta cũng vậy; cả công việc tay chúng nó làm ra cũng vậy; vật chúng nó dâng tại đây cũng bị ô uế.
14To naah Haggai mah, Hae kaminawk hoi acaengnawk loe ka hmaa ah to tiah ni oh o, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih; a sak o ih hmuennawk hoi a paek o ih hmuennawk loe ciim ai.
15Vậy bây giờ, ta xin các ngươi khá suy nghĩ, từ ngày nầy về trước, khi chưa đặt hòn đá nầy trên hòn đá kia nơi đền thờ Đức Giê-hô-va.
15To pongah vaihni hoi kamtong kahoih ah poek oh; canghni ah loe Angraeng ih tempul thungah thlung maeto pacoeng maeto pahong o.
16Trải qua cả lúc đó, khi người ta đến một đống lúa đáng được hai mươi lường, chỉ được có mười; và khi người ta đến bàn ép rượu, đáng được năm mươi lường, chỉ được có hai mươi.
16Canghnii ah loe kami maeto mah cang benthang pumphaeto tacawthaih ahmuen ah caeh naah, benthang hato khue ni a hak: kami maeto mah misurtui laom qui pangato pasawhhaih ahmuen ah caeh naah, laom pumphaeto khue ni a hak.
17Ta đã dùng những hạn hán, ten rét, mưa đá đánh phạt các ngươi trong mọi việc tay các ngươi làm, mà các ngươi không trở lại cùng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Na ban hoi sak ih toknawk boih to kai mah, dantui hoi qaetui hoiah dankang paek o, toe kai khaeah nam laem o ai, tiah Angraeng mah thuih.
18Bây giờ hãy suy nghĩ; từ ngày nay về trước, tức là từ ngày hai mươi bốn tháng chín, từ ngày đặt nền của đền thờ Đức Giê-hô-va; hãy suy nghĩ điều đó!
18Vaihni ni hoi kamtong, khrah takawtto haih, ni pumphaeto pacoeng, ni palito, Angraeng ih tempul sakhaih ni hoi kamtong, kahoih ah pakoep oh:
19Các ngươi còn có hột giống nơi hầm vựa không? Dầu cho đến cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-li-ve, cũng không có cây nào ra trái. Nhưng từ ngày nầy, ta sẽ ban phước cho các ngươi.
19tapup thungah cangtii oh maw? ue, vaihi khoek to misurthaih, thaiduet thaih, pomegranat thaih, Olive thaih athai ai vop: vaihni hoi kamtong tahamhoihaih kang paek o han boeh, tiah a thuih, tiah a naa.
20Lại có lời Đức Giê-hô-va phán lần thứ hai cho A-ghê trong ngày hai mươi bốn tháng ấy, rằng:
20To natheum ih khrah, ni pumphae palito naah, Haggai khaeah Angraeng ih lok angzoh let,
21Hãy nói cùng Xô-rô-ba-bên, quan trấn thủ Giu-đa, mà rằng: Ta sẽ làm rúng động các từng trời và đất;
21Judah prae ukkung, Zerubbabel khaeah, Kai mah van hoi long to ka huen han;
22Ta sẽ lật đổ ngôi của các nước, diệt quyền thế các nước của các dân; ta sẽ đánh đổ các xe cộ và người ngồi ở trên; các ngựa và người cỡi, ai nấy sẽ bị đánh ngã bởi gươm của anh em mình.
22siangpahrangnawk ih angraeng tangkhang to buenglueng tamlet ah ka pakhup pae moe, Sithaw panoek ai prae kaminawk thacakhaih to ka phraek pae han; hrang lakok hoi a nuiah angthueng kaminawk to ka palet pae han; hrang hoi a nuiah angthueng kaminawk loe angmacae nawkamyanawk ih sumsen hoiah dueh o tih, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
23Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, trong ngày đó, ta sẽ lấy ngươi làm đầy tớ ta! Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đặt ngươi như ấn tín; vì ta đã chọn ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
23Misatuh kaminawk ih Angraeng mah hae tiah thuih, to na niah loe Aw Shealtiel capa, ka tamna, Zerubbabel, nang to kang lak han, tiah Angraeng mah thuih; nang to ka qoih boeh pongah, sui bantuek baktiah kang sak han, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih, tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.