Phục
Chapter 32
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bíblia Portuguesa …
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Hỡi trời, hãy lắng tai, tôi sẽ nói; Và đất, hãy nghe những lời của miệng tôi.
1Deem ouvidos, ó céus, e eu falarei. Que a terra ouça as palavras da minha boca.
2Đạo của tôi rải ra như mưa; Lời tôi sa xuống khác nào sương móc, Tợ mưa tro trên cây cỏ, Tỉ như mưa tầm tã trên đồng xanh.
2Minha doutrina gotejará como a chuva. Minha fala se condensará como o orvalho, como a garoa sobre a relva tenra, como as chuvas sobre a erva.
3Vì tôi sẽ tung hô danh Giê-hô-va. Hãy tôn sự oai nghiêm cho Đức Chúa Trời chúng tôi!
3Pois eu proclamarei o nome do SENHOR. Atribuam grandeza ao nosso Deus!
4Công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Aáy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực.
4A Rocha: sua obra é perfeita, pois todos os seus caminhos são justos. Um Deus de fidelidade que não comete injustiça, justo e reto é ele.
5Chúng đáng mang xấu hổ, vì đã phản Ngài, Chẳng phải con trai của Ngài nữa: quả là một dòng dõi gian tà và điên-đảo!
5Eles agiram de forma corrupta para com ele. Eles não são seus filhos, por causa do seu defeito. Eles são uma geração perversa e tortuosa.
6Hỡi dân khờ dại không trí, Các ngươi báo đáp Đức Giê-hô-va như vậy sao? Ngài há chẳng phải là Cha ngươi, Đấng đã chuộc ngươi chăng? Há chẳng phải Ngài đã dựng nên ngươi, và lập ngươi sao?
6É assim que vocês retribuem ao SENHOR, povo tolo e insensato? Não é ele o seu pai que os comprou? Ele os fez e os estabeleceu.
7Hãy nhớ lại những ngày xưa; Suy xét những năm của các đời trước; Hãy hạch hỏi cha ngươi, người sẽ dạy cho. Cùng các trưởng lão, họ sẽ nói cho.
7Lembrem-se dos dias da antiguidade. Considerem os anos de muitas gerações. Perguntem ao seu pai, e ele lhes mostrará; aos seus anciãos, e eles lhes dirão.
8Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, Phân rẽ những con cái A-đam, Thì Ngài định bờ cõi của các dân, Cứ theo số dân Y-sơ-ra-ên.
8Quando o Altíssimo deu às nações a sua herança, quando ele separou os filhos dos homens, ele estabeleceu os limites dos povos de acordo com o número dos filhos de Israel.
9Vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là cơ nghiệp Ngài.
9Pois a porção do SENHOR é o seu povo. Jacó é o lote da sua herança.
10Ngài tìm được người trong một nơi rừng-rú, Tại nơi vắng vẻ, giữa những tiếng hét la của đồng vắng. Ngài bao phủ người, săn sóc người, Gìn giữ người như con ngươi của mắt mình.
10Ele o encontrou em uma terra deserta, no deserto desolado e uivante. Ele o cercou. Ele cuidou dele. Ele o guardou como a menina dos seus olhos.
11Như phụng hoàng phấp phới giỡn ổ mình, Bay chung quanh con nhỏ mình, Sè cánh ra xớt nó, Và cõng nó trên chéo cánh mình thể nào,
11Como uma águia que desperta o seu ninho, que paira sobre os seus filhotes, ele estendeu as suas asas, ele os tomou, ele os carregou sobre as suas penas.
12Thì một mình Đức Giê-hô-va đã dẫn dắt người thể ấy, Không có thần nào khác ở cùng người.
12Somente o SENHOR o guiou. Não havia nenhum deus estrangeiro com ele.
13Ngài đã khiến người cỡi trên các nơi cao của xứ, Y-sơ-ra-ên ăn hoa quả của đồng ruộng, Ngài khiến người hút mật của hòn đá, Dầu của hòn đá cứng hơn hết,
13Ele o fez cavalgar sobre os lugares altos da terra. Ele comeu a colheita do campo. Ele o fez sugar mel da rocha, óleo da rocha de sílex;
14Và nút mỡ sữa bò và sữa chiên. Ngài ban cho người mỡ chiên con, Chiên đực sanh tại Ba-san, và dê đực, Cùng bột lọc nhất hạng của lúa mạch; Người có uống huyết của nho như rượu mạnh.
14manteiga do gado, e leite do rebanho, com a gordura de cordeiros, carneiros da raça de Basã, e bodes, com o trigo mais fino. Do sangue da uva, você bebeu vinho.
15Giê-su-run đã mập mạp và cất đá, Người trở nên mập, lớn và béo tròn. Người đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, là Đấng dựng nên người, Và khinh dể Hòn Đá của sự chửng cứu ngươi.
15Mas Jesurum engordou, e deu coices. Você engordou. Você ficou corpulento. Você ficou lustroso. Então ele abandonou a Deus que o fez, e rejeitou a Rocha da sua salvação.
16Chúng nó trêu ghẹo Ngài phân bì, bởi sự cúng thờ những thần khác, Chọc giận Ngài vì các sự gớm ghiếc;
16Eles o provocaram a ciúmes com deuses estranhos. Eles o provocaram à ira com abominações.
17Tế lễ những ma quỉ chẳng phải là Đức Chúa Trời, Quì lạy các thần mà mình chưa hề biết, Tức là các thần mới vừa đến ít lâu, Mà tổ phụ các ngươi không kính sợ.
17Eles sacrificaram a demônios, não a Deus, a deuses que eles não conheciam, a novos deuses que surgiram recentemente, aos quais os seus pais não temeram.
18Ngươi không kể đến Hòn Đá sanh mình. Và quên Đức Chúa Trời đã tạo mình.
18Da Rocha que se tornou o seu pai, você se esqueceu, e se esqueceu de Deus que o gerou.
19Đức Giê-hô-va có thấy điều đó, nên trong cơn thạnh nộ, Ngài đã từ bỏ các con trai và con gái mình.
19O SENHOR viu e os abominou, por causa da provocação dos seus filhos e das suas filhas.
20Ngài có phán: Ta sẽ giấu mặt ta, Để xem sự cuối cùng của chúng nó ra sao; Vì là một dòng dõi gian tà, Là những con cái không có lòng trung tín.
20Ele disse: “Esconderei o meu rosto deles. Verei qual será o fim deles; pois eles são uma geração muito perversa, filhos em quem não há fidelidade.
21Chúng nó giục ta phân bì, vì cúng thờ thần chẳng phải là Đức Chúa Trời, Lấy sự hư không mà chọc giận ta; Ta cũng vậy, lấy một dân tộc hèn mà trêu sự phân bì của chúng nó, Lấy một nước ngu dại mà chọc giận chúng nó.
21Eles me provocaram a ciúmes com aquilo que não é Deus. Eles me provocaram à ira com as suas vaidades. Eu os provocarei a ciúmes com aqueles que não são povo. Eu os provocarei à ira com uma nação tola.
22Vì có lửa nổi phừng trong cơn giận ta, Cháy cho đến đáy sâu âm phủ, Thiêu nuốt đất và thổ sản, Cùng cháy đốt nền các núi.
22Pois um fogo se acendeu na minha ira, que queima até o mais profundo Seol, devora a terra com a sua colheita, e incendeia os fundamentos dos montes.
23Ta sẽ chất những tai vạ trên mình chúng nó, Bắn chúng nó hết các tên ta.
23“Amontoarei males sobre eles. Gastarei as minhas flechas contra eles.
24Chúng nó sẽ bị đói hao mòn, bị rét tiêu đi, Và một thứ dịch hạch độc dữ ăn nuốt. Ta sẽ khiến răng thú rừng, Và nọc độc của loài bò dưới bụi đến hại chúng nó.
24Eles serão consumidos pela fome, e devorados pelo calor ardente e pela destruição amarga. Enviarei os dentes de animais sobre eles, com o veneno de víboras que rastejam no pó.
25Ngoài thì gươm dao, Trong thì kinh khủng Sẽ làm cho trai trẻ, gái đồng trinh, Và con đang bú, luôn với người già bạc Đều bị diệt vong.
25Lá fora a espada os privará de filhos, e nos aposentos, haverá terror tanto para o jovem quanto para a virgem, para o bebê de peito junto com o homem de cabelos grisalhos.
26Ta nói rằng: Ta sẽ lấy hơi thở ta quét sạch chúng nó đi, Diệt kỷ niệm chúng nó khỏi loài người.
26Eu disse que os espalharia para longe. Eu faria a memória deles cessar dentre os homens;
27Song sợ thù nghịch nhiếc nhóc, Kẻ cừu địch chúng nó lầm hiểu, La rằng: Tay chúng tôi đã tỏ sức cao cường, Chớ chẳng phải Đức Giê-hô-va có làm mọi điều ấy đâu!
27se não fosse que eu temia a provocação do inimigo, para que os seus adversários não julgassem mal, para que não dissessem: ‘Nossa mão está exaltada; o SENHOR não fez tudo isso.’”
28Vì là một dân mất trí, Trong lòng không có thông minh!
28Pois eles são uma nação desprovida de conselho. Não há entendimento neles.
29Chớ chi họ khôn ngoan và hiểu được, Ước gì nghĩ đến sự cuối cùng vẫn đợi họ!
29Ah, se eles fossem sábios, se entendessem isso, se considerassem o seu fim!
30Nhược bằng Hòn Đá không có bán chúng nó, Và Giê-hô-va không giao nộp chúng nó, Thì làm sao một người rượt nổi ngàn người, Và hai người đuổi mười ngàn người trốn đi?
30Como poderia um só perseguir mil, e dois colocarem dez mil em fuga, a não ser que a sua Rocha os tivesse vendido, e o SENHOR os tivesse entregado?
31Vì hòn đá chúng nó chẳng phải như Hòn Đá chúng ta, Thù nghịch chúng ta cũng xét đoán như vậy.
31Pois a rocha deles não é como a nossa Rocha, como os nossos próprios inimigos reconhecem.
32Cây nho chúng nó vốn là chồi của Sô-đôm, Và do đất của Gô-mô-rơ. Trái nho chúng nó vốn là độc, Và chùm nho vốn là đắng;
32Pois a videira deles é da videira de Sodoma, dos campos de Gomorra. As suas uvas são uvas venenosas. Os seus cachos são amargos.
33Rượu nho chúng nó là nọc độc con rắn, Một thứ nọc độc rất dữ của rắn hổ.
33O seu vinho é o veneno de serpentes, o veneno cruel de áspides.
34Những việc như thế làm sao ta quên được? Ta đã niêm phong nó vào trong kho ta.
34“Isso não está guardado comigo, selado entre os meus tesouros?
35Khi chân chúng nó xiêu tó, Sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta. Vì ngày bại hoại của chúng nó hầu gần, Và những tai họa buộc phải xảy ra cho chúng nó đến mau.
35A vingança é minha, e a recompensa, no tempo em que o pé deles escorregar, pois o dia da sua calamidade está próximo. A sua ruína se apressa sobre eles.”
36Phải, khi Đức Giê-hô-va thấy sức lực của dân sự mình hao mòn, Và không còn lại tôi mọi hay là tự chủ cho chúng nó, Thì Ngài sẽ đoán xét công bình cho chúng nó, Và thương xót tôi tớ Ngài.
36Pois o SENHOR julgará o seu povo, e terá compaixão dos seus servos, quando ele vir que o poder deles se foi, que não há ninguém restando, preso ou solto.
37Ngài sẽ phán: Các thần chúng nó, Những hòn đá chúng nó nhờ cậy,
37Ele dirá: “Onde estão os seus deuses, a rocha na qual eles se refugiaram,
38Các thần hưởng mỡ của hi sinh, Và uống rượu của lễ quán chúng nó, đều ở đâu? Các thần ấy hãy đứng dậy, giúp đỡ Và che phủ cho các người!
38que comiam a gordura dos seus sacrifícios, e bebiam o vinho da sua oferta de libação? Que eles se levantem e os ajudem! Que eles sejam a sua proteção.
39Bây giờ, hãy xem ta là Đức Chúa Trời, Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác. Ta khiến cho chết và cho sống lại, Làm cho bị thương và chữa cho lành, Chẳng có ai giải cứu khỏi tay ta được.
39“Vejam agora que eu mesmo sou ele. Não há deus comigo. Eu mato e eu faço viver. Eu firo e eu curo. Não há ninguém que possa livrar da minha mão.
40Vì ta giơ tay chỉ trời Mà thề rằng: Ta quả thật hằng sống đời đời,
40Pois eu levanto a minha mão aos céus e declaro, tão certo como eu vivo para sempre,
41Khi ta mài lưỡi sáng của gươm ta, Và tay ta cầm sự đoán xét, Thì ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta, Cùng đối trả những kẻ nào ghét ta.
41se eu afiar a minha espada reluzente, e a minha mão a empunhar em julgamento; eu me vingarei dos meus adversários, e retribuirei àqueles que me odeiam.
42Ta sẽ làm cho các mũi tên ta say huyết; Lưỡi gươm ta ăn thịt, Tức là huyết của kẻ bị giết và của phu tù, Thịt của đầu các tướng thù nghịch.
42Embriagarei as minhas flechas com sangue. A minha espada devorará carne com o sangue dos mortos e dos cativos, desde a cabeça dos líderes do inimigo.”
43Hỡi các nước! hãy vui mừng với dân Ngài, Vì Đức Chúa Trời sẽ báo thù huyết của tôi tớ Ngài, Trả thù kẻ cừu địch Ngài, Và tha tội cho xứ và cho dân của Ngài.
43Alegrem-se, ó nações, com o seu povo, pois ele vingará o sangue dos seus servos. Ele se vingará dos seus adversários, e fará expiação pela sua terra e pelo seu povo.
44Vậy, Môi-se cùng Giô-suê, con trai của Nun, đến đọc hết các lời bài ca nầy cho dân sự nghe.
44Moisés veio e falou todas as palavras deste cântico aos ouvidos do povo, ele e Josué, filho de Num.
45Khi Môi-se đã đọc xong các lời nầy tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên,
45Moisés terminou de recitar todas estas palavras a todo o Israel.
46thì người nói cùng chúng rằng: Hãy để lòng chăm chỉ về hết thảy lời ta đã nài khuyên các ngươi ngày nay, mà truyền cho con cháu mình, để chúng nó cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy.
46Ele lhes disse: “Apliquem o seu coração a todas as palavras que hoje testifico a vocês, as quais vocês ordenarão aos seus filhos que observem e cumpram, todas as palavras desta lei.
47Vì chẳng phải một lời nói vô giá cho các ngươi đâu, nhưng nó là sự sống của các ngươi; nhờ lời nói nầy, các ngươi sẽ ở lâu ngày trên đất mà các ngươi sẽ đi nhận lấy, khi qua sông Giô-đanh.
47Pois não é uma coisa vã para vocês, porque é a sua vida, e por meio disso vocês prolongarão os seus dias na terra, para onde estão atravessando o Jordão para possuí-la.”
48Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
48O SENHOR falou a Moisés naquele mesmo dia, dizendo:
49Hãy đi lên núi A-ba-rim, trên đỉnh Nê-bô, ở trong xứ Mô-áp, đối ngang Giê-ri-cô; rồi nhìn xứ Ca-na-an mà ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp.
49“Suba a esta montanha de Abarim, ao Monte Nebo, que está na terra de Moabe, em frente a Jericó; e veja a terra de Canaã, que eu dou aos filhos de Israel como propriedade.
50Vả, ngươi sẽ chết trên núi mà ngươi lên đó và sẽ được tiếp về cùng dân ngươi, y như A-rôn, anh ngươi, đã chết trên núi Hô-rơ, và đã được tiếp về cùng dân của người,
50Morra na montanha para onde você subir, e seja reunido ao seu povo, assim como Arão, seu irmão, morreu no Monte Hor, e foi reunido ao seu povo;
51bởi vì tại giữa dân Y-sơ-ra-ên, các ngươi đã phạm tội cùng ta, nơi nước Mê-ri-ba tại Ca-đe, trong đồng bắng Xin, và vì các ngươi không tôn ta thánh giữa dân Y-sơ-ra-ên.
51porque vocês transgrediram contra mim no meio dos filhos de Israel nas águas de Meribá de Cades, no deserto de Zim; porque vocês não sustentaram a minha santidade no meio dos filhos de Israel.
52Quả thật, ngươi sẽ thấy xứ ở trước mặt mình, nhưng không được vào trong xứ ấy mà ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên.
52Pois você verá a terra de longe; mas você não entrará lá, na terra que eu dou aos filhos de Israel.”

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.