Orekma 2
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ke sun len in Pentecost, mwet lulalfongi nukewa fahsreni nu in acn sefanna.
1Đến ngày lễ Ngũ tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ.
2In pacl sacna sie pusra lulap kasla yen engyeng uh, oana pusren sie eng na upa, ac nwakla in lohm se elos muta loac ah nufon.
2Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi.
3Na elos liye kutu ma su oana luman loh ma firir, su fahsrelik ac tuhwi fin kais sie mwet in acn sac.
3Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình.
4Elos nukewa sessesla ke Ngun Mutal ac mutawauk in kaskas ke kutena kain in kas, oana ke Ngun sang nu selos in fahk.
4Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói.
5Oasr mwet Jew su muta in Jerusalem, mwet lun alu, su tuku liki mutunfacl nukewa fin faclu.
5Vả, bấy giờ có người Giu-đa, kẻ mộ đạo, từ các dân thiên hạ đến, ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
6Ke elos lohng pusra se inge, sie u na lulap fahsreni nu in acn sac. Elos nukewa arulana lut, mweyen kais sie selos lohng ke mwet lulalfongi inge elos sramsram ke kas lalos sifacna.
6Lúc tiếng ấy vang ra, dân chúng chạy đến, ai nấy đều sững sờ vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng xứ mình.
7Ke lut lulap ac fwefela lalos elos fahk, “Mwet inge su kaskas ouinge uh elos mwet Galilee!
7Chúng đều sợ hãi và lấy làm lạ mà rằng: Hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao?
8Na fuka tuh kut lohng elos sramsram ke kain in kas lun kais sie mutunfacl sesr uh?
8Vậy thì, sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ?
9Kut mwet Parthia, Media, ac Elam; oayapa Mesopotamia, Judea, ac Cappadocia; Pontus ac Asia,
9Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si,
10oayapa liki acn Phrygia ac Pamphylia, liki Egypt ac kutu acn in Libya ma apkuran nu ke siti Cyrene. Kutu sesr ma tuku Rome me
10Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến,
11kut isusla mwet Jew, a kutu sesr forla in wela alu lun mwet Jew. Ac kutu sesr tuku liki acn Crete ac Arabia. Ne ouinge a kut nukewa lohng ke elos sramsram ke kain in kas nukewa lasr, ke orekma yohk su God El oru!”
11cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A rạp nữa, chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời.
12Ke lut lulap ac fohsak lalos, elos asiyuki na inmasrlolos, “Mea kalmen ma inge?”
12Ai ai đều sợ hãi, không biết nghĩ làm sao, bèn nói với nhau rằng: Việc nầy là nghĩa làm sao?
13A kutu sin mwet uh aksruksruk ke mwet lulalfongi, ac fahk mu, “Mwet inge sruhi!”
13Nhưng có kẻ lại nhạo báng rằng: Họ say rượu mới đó.
14Na Peter el tuyak wi mwet sap singoul sie, ac fahkak ke sie pusra lulap nu sin un mwet uh: “Mwet Jew wiasr, ac kowos nukewa su muta in Jerusalem, porongeyu ke nga ac aketeya kalmen ma inge nu suwos.
14Bấy giờ, Phi-e-rơ đứng ra cùng mười một sứ đồ, cất tiếng nói với dân chúng rằng: Hỡi người Giu-đa, và mọi người ở tại thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết rõ điều nầy, và lắng tai nghe lời ta.
15Mwet inge tia sruhi oana ke kowos nunku an; tufahna ao eu ke lotutang uh pa inge.
15Những người nầy chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba ban ngày.
16A pwayeiya uh, pa inge ma se mwet palu Joel el tuh fahk kac:
16Nhưng ấy là điều đấng tiên tri Giô-ên đã nói tiên tri rằng:
17‘God El fahk, Pa inge ma nga ac oru ke len safla uh, Nga fah oru tuh ngun mutal luk in tuku nu fin mwet nukewa. Wen nutuwos ac acn nutuwos elos ac fah sulkakin kas luk; Mukul fusr lowos elos ac fah liye aruruma sin God me, Ac mukul matu lowos elos ac fah mwemei ma pwaye lun God.
17Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao.
18Aok, finne mwet kulansap luk, mukul ac mutan, Nga ac fah sang ngun luk nu faclos in len ingo, Ac elos ac fah wi pac sulkakin kas luk.
18Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri;
19Nga ac fah oru ma usrnguk in acn engyeng uh, Ac ma sakirik fin faclu ten. Ac fah oasr pac srah, e, ac kulasr matoltol;
19Ta lại sẽ tỏ ra sự lạ lùng ở trên trời, Và dấu lạ ở dưới đất; Tức là máu, lửa, và luồng khói;
20Faht uh ac fah lohsrla, Ac malem uh srusrala oana srah, Meet liki Len lulap ac wolana lun Leum ac fah tuku.
20Mặt trời sẽ biến nên tối tăm, Mặt trăng hóa ra máu, Trước ngày lớn và vinh hiển của Chúa chưa đến;
21Na kutena mwet su pang in suk kasru sin Leum elos fah moul.’
21Và lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu.
22“Kowos mwet Israel, porongo kas luk! Jesus lun Nazareth el sie mwet, su ku lulap lal akpwayeiyuk tari ye motowos nukewa ke mwenmen ac orekma usrnguk su God El sang ku nu sel in oru. Kowos sifacna etu ma inge, mweyen orek inmasrlowos.
22Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết.
23God El sifacna oakiya meet lah El ac eisalot Jesus nu inpouwos, ac kowos sang tuh mwet koluk in unilya fin sakseng soko.
23Người đó bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi.
24Tusruk God El akmoulyalak liki misa, ac aksukosokyal liki ku lun misa, mweyen misa tia ku in sruokilya oana sie mwet kapir.
24Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó.
25Tuh David el fahk ouinge kacl, ‘Nga liye Leum God ye mutuk in pacl nukewa; El apkuran nu sik, ac nga ac fah tiana fosrnga.
25Bởi chưng vua Đa-vít có nói về Người rằng: Tôi từng thấy Chúa ở trước mặt tôi luôn, Vì Ngài ở bên hữu tôi, hầu cho tôi chẳng bị rúng động chút nào.
26Ke ma inge nga arulana insewowo, Ac kas luk sessesla ke engan. Mensis nga ac finne misa, A nga fah inse misla ke sripen finsrak luk,
26Bởi cớ đó, lòng tôi vui vẻ, lưỡi tôi mừng rỡ, Và xác thịt tôi cũng sẽ yên nghỉ trong sự trông cậy;
27Mweyen kom ac fah tiana sisyula in facl lun mwet misa; Kom ac fah tia lela mwet kulansap oaru lom in kulawi in kulyuk uh.
27Vì Chúa sẽ chẳng để linh hồn tôi nơi Aâm phủ, Và chẳng cho Đấng Thánh của Ngài hư nát đâu.
28Kom fahkak tari nu sik inkanek nu ke moul, Ac apkuran lom nu sik ac fah nwekyula ke engan.’
28Chúa đã cho tôi biết đường sự sống; Cũng sẽ cho tôi đầy lòng vui mừng trước mặt Ngài.
29“Mwet lili luk, nga enenu in kaskas na kalem nu suwos kacl David, papa matu pwengpeng tumasr. El tuh misa ac pukpuki, ac kulyuk lal uh pa na oan yorosr nwe misenge.
29Hỡi anh em, ta thật có thể nói cách vững vàng với anh em về tổ Đa-vít rằng người đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta.
30El sie mwet palu, ac el etu ma God El wuleang nu sel ah: God El orala wulela na ku se nu sel mu El ac fah oru tuh sie sin fita natul pa ac tokosra oana el.
30Nhưng, vì người là đấng tiên tri, và biết Đức Chúa Trời đã thề hứa với người sẽ cho một hậu tự người ngồi trên ngai mình,
31David el liye ma God El ako in oru inge, ouinge el kaskaskin sifil moulyak lun Christ ke el fahk mu, ‘Tiana sisyukla el in facl sin mwet misa; Manol tuh tiana kulawi oan inkulyuk uh.’
31thì người đã thấy trước và nói trước về sự sống lại của Đấng Christ rằng: Ngài chẳng bị để nơi Aâm phủ, và xác thịt Ngài chẳng thấy sự hư nát.
32God El tuh akmoulyauk Jesus se inge liki misa, ac kut nukewa mwet loh kac.
32Đức Chúa Jêsus nầy, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó.
33Akmoulyeyukyak el tari nu ke lac po layot sin God Papa tumal, ac el eis Ngun Mutal sin God, oana ke tuh wiliyukyang nu sel kac. Ma kowos liye ac lohng inge pa mwe sang se inge su El supwama nu facsr.
33Vậy, sau khi Ngài đã được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời, và từ nơi Cha đã nhận lấy Đức Thánh Linh mà Cha đã hứa ban cho, thì Ngài đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đang thấy và nghe.
34Mweyen tia David pa tuh som nu lucng ah; a David el tuh fahk, ‘Leum God El fahk nu sin Leum luk: Muta inge, ke lac po layot sik,
34Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời, nhưng chính người có nói: Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu ta,
35Nwe ke nga filiya mwet lokoalok lom in oana ma loangeyen niom.’
35Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch ngươi dưới chân ngươi, đặng làm bệ cho ngươi.
36“Ke ma inge, wona kowos mwet Israel nukewa in arulana etu kalem, lah Jesus se inge su kowos srupusrak fin sakseng, pa God El orala tuh elan Leum ac Christ!”
36Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus nầy, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ.
37Ke mwet uh lohng ma inge, arulana fakisya insialos, na elos fahk nu sel Peter ac mwet sap ngia, “Mwet lili, mea kut ac oru uh?”
37Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?
38Peter el fahk nu selos, “Kais sie suwos enenu in forla liki ma koluk lal, ac baptaisla inen Jesus Christ, tuh ma koluk lowos fah nunak munas nu suwos; ac kowos fah eis mwe kite lun God ke Ngun Mutal.
38Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.
39Tuh wulela lun God orekla nu suwos ac nu sin tulik nutuwos, oayapa mwet nukewa su muta yen loessula — elos nukewa su Leum God lasr El pangonma nu yorol.”
39Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi.
40Peter el kwafe ouinge nu selos ke kas in akku puspis saya, ac fahk, “Sifacna molikowosla liki mwe kai su ac sikyak nu sin fwil se inge su arulana koluk.”
40Phi-e-rơ lại lấy nhiều lời giảng nữa mà giục lòng và khuyên lơn chúng rằng: Các ngươi khá cứu mình thoát khỏi giữa dòng dõi gian tà nầy!
41Mwet puspis selos lulalfongi kas lal Peter ac baptaisla, ac akuran tolu tausin mwet pa wela u sac ke len sac.
41Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-tem; và trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh.
42Elos arulana eisalosyang in porongo ac lutlut sin mwet sap uh, oayapa aengani yurin sie sin sie, ac wi pac ipeis ke kufwa in kunsalik bread, ac pre.
42Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện.
43Mwet sap elos oru ma sakirik ac mwenmen puspis, ac mwet uh arulana lut ke ma inge.
43Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ.
44Mwet lulalfongi nukewa elos arulana insese ac tukeni akasrui sie sin sie ke ma lalos.
44Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung.
45Elos kukakunla acn ac ma lalos, ac kitalik mani kac uh nu sin mwet nukewa, fal nu ke lupan enenu lun kais sie.
45Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.
46Len nukewa elos tukeni nu in Tempul, ac ke pacl in mongo elos tukeni in lohm selos ke engan ac inse pusisel.
46Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà,
47Elos kaksakin God ac elos ohi yurin mwet nukewa. Ac Leum El akpusyelik mwet in u sac len nukewa ke mwet su moliyukla.
47ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.