Orekma 7
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Mwet Tol Fulat el siyuk sel Stephen, “Ya pwaye ma mwet inge fahk keim uh?”
1Thầy cả thượng phẩm bèn hỏi Ê-tiên rằng: Có phải thật như vậy chăng?
2Ac Stephen el fahk, “Mwet lili ac papa an, kowos porongeyu! Meet liki Abraham, papa matu tumasr, el tuh som ac muta lac Haran, God lun wolana El sikyang nu sel in acn Mesopotamia,
2Ê-tiên trả lời rằng: Hỡi các anh, các cha, xin nghe lời tôi! Đức Chúa Trời vinh hiển đã hiện ra cùng tổ chúng ta là Aùp-ra-ham, khi người còn ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, chưa đến ở tại Cha-ran,
3ac fahk nu sel, ‘Tuyak ac fahla liki facl sum ac mwet lom, ac som nu ke sie acn su nga ac fah akkalemye nu sum.’
3mà phán rằng: Hãy ra khỏi quê hương và bà con ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
4Na el som liki facl sel, su ma lun mwet Chaldea, ac muta in siti se pangpang Haran. Tukun papa tumal Abraham ah misa, God El sap elan tuku nu in acn se ma kowos muta we inge.
4Bấy giờ người ra khỏi xứ Canh-đê, rồi đến thành Cha-ran. Từ đó, lúc cha người qua đời rồi, Đức Chúa Trời khiến người từ nơi đó qua xứ các ông hiện đang ở;
5God El tiana sang kutu srisrik ipin acn inge nu sel Abraham in pacl sac tuh in ma lal. Tusruktu God El tuh wuleang mu El ac fah sang acn inge lal, oayapa nu sin fwilin tulik natul. In pacl se God El orala wulela se inge, wangin tulik natul Abraham.
5Ngài chẳng ban cho người sản nghiệp gì trong xứ nầy, dầu một thẻo đất lọt bàn chân cũng không, nhưng Ngài hứa ban xứ nầy làm kỷ vật cho người và dòng dõi người nữa, dẫu bấy giờ người chưa có con cái mặc lòng.
6Pa inge ma God El fahk nu sel: ‘Fita lom uh ac fah muta in sie facl sac, yen elos ac fah mwet kohs we, ac elos ac fah akkeokyeyuk ke lusen yac angfoko.
6Đức Chúa Trời phán như vầy: Dòng dõi ngươi sẽ ở ngụ nơi đất khách, người ta sẽ bắt chúng nó làm tôi và hà hiếp trong bốn trăm năm.
7Tusruk nga ac fah nununku mwet ma ac akkeokyalos uh, na tok elos ac illa liki facl se ingo ac alu nu sik in facl se inge.’
7Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng ta sẽ đoán xét dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng ta trong nơi nầy.
8Na God El sang nu sel Abraham sie mwe akul nu ke wulela sac, pa kosrala. Ouinge Abraham el kosralla Isaac ke el len oalkosr matwa, ac Isaac el kosralla Jacob, ac Jacob el kosrala wen singoul luo natul, su mwet matu pwengpeng lun sou lasr uh.
8Đoạn, Đức Chúa Trời ban cho người sự giao ước về phép cắt bì. Aáy vậy, khi Aùp-ra-ham đã sanh một con trai là Y-sác, thì làm phép cắt bì cho, trong ngày thứ tám; Y-sác làm phép cắt bì cho Gia-cốp, và Gia-cốp làm phép ấy cho mười hai tổ phụ.
9“Joseph el sie sin mwet matu pwengpeng lasr, ac tamulel lal elos sok sel ac kukakunulla tuh elan sie mwet kohs in acn Egypt. Tusruktu, God El welul
9Mười hai tổ phụ ghen ghét Giô-sép, nên bán qua xứ Ê-díp-tô; nhưng Đức Chúa Trời ở cùng người.
10ac karinganulang ke mwe ongoiya nukewa nu sel. Ke Joseph el utukyak nu ye mutal Pharoah, tokosra lun Egypt, God El sang ohi ac lalmwetmet nu sel, na tokosra sac el oakilya Joseph tuh elan governor fin acn we, ac oayapa fin mwet nukewa inkul fulat lun tokosra.
10Ngài giải cứu người khỏi cảnh khó khăn, và cho đầy ơn và trí trước mặt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, vua ấy lập người làm tể tướng cai quản xứ Ê-díp-tô và cả nhà vua nữa.
11Na oasr sracl na lulap se sikyak fin acn Egypt nufon oayapa in facl Canaan, su pwanang keok lulap nu in acn we. Mwet matu lasr elos tuh tia ku in konauk mwe mongo,
11Bấy giờ, xảy có cơn đói kém trong cả xứ Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an; sự túng ngặt lớn lắm, tổ phụ chúng ta chẳng tìm được đồ ăn.
12ac ke Jacob el lohngak lah oasr wheat in acn Egypt, el supwala wen natul, aok papa matu tumasr, ke fahsr se meet lalos nu we.
12Gia-cốp nghe bên Ê-díp-tô có lúa mì, thì sai tổ phụ ta qua đó lần thứ nhất.
13Ke fahsr se akluo lalos ah, Joseph el sifacna fahkulak nu sin mwet lel, ouinge tokosra Egypt el tufah etu ke sou lal Joseph.
13Đến lần thứ hai, anh em Giô-sép nhận biết người, và Pha-ra-ôn mới biết dòng họ người.
14Na Joseph el sapla nu sel Jacob, papa tumal, ac fahk tuh el ac sou lal in tuku nu Egypt — mwet itngoul limekosr nufon.
14Giô-sép bèn sai rước Gia-cốp là cha mình và cả nhà, cộng là bảy mươi lăm người.
15Na Jacob el oatula som nu Egypt, yen ma el, ac papa matu tumasr, misa we.
15Vậy, Gia-cốp xuống xứ Ê-díp-tô, rồi chết tại đó, và tổ phụ chúng ta cũng vậy;
16Manolos utukla nu Shechem, ac pukpuki ke kulyuk se ma Abraham el tuh molela sin mwet in sruf lal Hamor.
16sau được đem về Si-chem, chôn nơi mộ mà Aùp-ra-ham đã lấy bạc mua của con cháu Hê-mô quê ở Si-chem.
17“Ke apkuran me pacl se ma God El tuh wuleang kac nu sel Abraham ah, pisen mwet lasr in acn Egypt arulana puseni.
17Nhưng, gần đến kỳ phải ứng nghiệm lời hứa Đức Chúa Trời đã thề với Aùp-ra-ham, dân cứ sanh sản và thêm nhiều lên trong xứ Ê-díp-tô,
18Fahsr nwe sie tokosra su tia etu kacl Joseph el mutawauk in leum fin acn Egypt.
18cho đến khi trong xứ đó có một vua khác dấy lên, chẳng nhìn biết Giô-sép.
19El kiapwela mwet matu lasr, ac arulana sulallal nu selos, ac el orek sap ku nu selos in sisla tulik fusr natulos liki lohm selos elos in misa.
19Vua nầy dùng mưu hại dòng giống và hà hiếp tổ phụ chúng ta, ép phải bỏ con mới sanh, hầu cho sống chẳng được.
20Pa inge pacl se Moses el isusla, ac el sie tulik na oasku. Mwet in lohm sel uh liyalang ke malem tolu,
20Trong lúc đó, Môi-se sanh ra; người xinh tốt khác thường, được nuôi trong ba tháng tại nhà cha mình.
21ac ke sisila el liki lohm sel ah, acn se natul tokosra nutella ac tufahlla oana in ma na natul.
21Khi người bị bỏ, thì con gái Pha-ra-ôn vớt lấy, nuôi làm con mình.
22Lutiyuk el ke kain in etauk nukewa lun mwet Egypt, ac el sie mwet arulana pah in kas ac ku ke orekma.
22Môi-se được học cả sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô; lời nói và việc làm đều có tài năng.
23“Ke Moses el yac angngaul matwal, el nunkauk in som liye lah mwet Israel wial uh fuka.
23Nhưng lúc người được đầy bốn mươi tuổi rồi, trong lòng nhớ đến, muốn đi thăm anh em mình là con cái Y-sơ-ra-ên.
24Ke el som el liye lah sie selos tuh orek arulana koluk sin mwet Egypt se, sruk wangin mwatal. Ouinge Moses el som in kasrel, na el foloksak nu sin mwet Egypt sac ac unilya. (
24Môi-se thấy có người hà hiếp một người trong đám họ, nên binh vực kẻ bị hà hiếp và đánh người Ê-díp-tô để báo thù cho.
25El nunku mu mwet lal uh ac kalem kac lah God El orekmakunul in aksukosokyalosla, tuh elos tiana kalem kac.)
25Người ngờ anh em mình chắc hiểu rằng Đức Chúa Trời dùng tay mình giải cứu họ; nhưng họ chẳng hiểu.
26In len tok ah el liye ke mwet Israel luo anwuk, na el srike in akmisyeltalla, ac el fahk nu seltal, ‘Porongeyu. Komtal kewa mwet Israel, na efu ku komtal anwuk angan?’
26Đến ngày sau, chúng đang đánh lộn với nhau, thì người đến gần mà giải hòa, rằng: Hỡi các ngươi, đã là anh em, sao lại làm hại nhau vậy?
27Tusruktu mwet se ma oru koluk mwet se ngia el sinukunulla Moses ac siyuk sel, ‘Su oru kom in leum facsr ac nununkekut uh?
27Kẻ đang ức hiếp người lân cận mình xô Môi se ra, mà rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan xử đoán chúng ta?
28Ya kom lungse uniyuwi, oana ke kom uniya mwet Egypt se ekea ah?’
28Há ngươi muốn giết ta như hôm qua đã giết người Ê-díp-tô sao?
29Ke Moses el lohng kas inge, el kaingla liki acn Egypt ac som muta in facl Midian. Ke el muta we, oasr wen luo natul we.
29Môi-se vừa nghe lời đó thì trốn đi ở trong xứ Ma-đi-an, nơi đó người sanh được hai con trai.
30“Tukun yac angngaul, lipufan se sikyang nu sel Moses liki e se ma firir in sak srisrik soko in acn mwesis apkuran nu fineol Sinai.
30Cách bốn mươi năm, một thiên sứ hiện ra cùng người, tại đồng vắng núi Si-na-i, trong ngọn lửa nơi bụi gai đang cháy.
31Moses el arulana lut ke ma se el liye inge, ac el kalukyang nu kac elan liye in wo. Na el lohngak pusren Leum, ke El fahk:
31Môi-se thấy vậy, lấy làm lạ về sự hiện ra đó, đang áp lại để xem cho gần hơn, thì nghe tiếng Chúa phán rằng:
32‘Nga God lun papa matu tomom somla — God lal Abraham, Isaac, ac Jacob.’ Moses el rarrar ke sangeng, ac tia ku in ngetang nu kac.
32Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp. Môi-se run sợ, chẳng dám nhìn xem.
33Ac Leum God El fahk nu sel, ‘Eisla fahluk lom an, tuh acn se kom tu we inge acn mutal se.
33Chúa bèn phán rằng: Hãy cổi giày ở chân ngươi ra; vì chỗ mà ngươi đứng đó là một nơi đất thánh.
34Nga liye lupan ongoiya lun mwet luk in acn Egypt. Nga lohng sasao lalos, ac inge nga oatui in molelosla. Fahsru, ac nga fah supwekomla nu Egypt.’
34Ta đã đoái xem và thấy cảnh khó khăn của dân ta trong xứ Ê-díp-tô, ta đã nghe tiếng than thở của chúng nó, và xuống đặng giải cứu. Bây giờ hãy đến, đặng ta sai ngươi qua xứ Ê-díp-tô.
35“Moses se inge pa mwet Israel tuh srangesr lohngol, ac fahk nu sel mu, ‘Su oru kom in leum facsr ac nununkekut uh?’ El pa mwet se ma God El supwala in tuh kol mwet uh, ac molelosla ke kasru lun lipufan se su sikyang nu sel in e se ma firir in sak srisrik soko ah.
35Môi-se nầy là người họ đã bỏ ra, và rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan đoán xét chúng ta? Aáy là người mà Đức Chúa Trời đã sai làm quan cai trị và đấng giải cứu, cậy tay một thiên sứ đã hiện ra với người trong bụi gai.
36El kolla mwet uh liki acn Egypt, orek mwenmen ac ma sakirik in acn Egypt ac in Meoa Srusra, ac oayapa in acn mwesis uh ke yac angngaul.
36Aáy là người đã đem họ ra khỏi, làm những dấu kỳ phép lạ trong xứ Ê-díp-tô, trên Biển-đỏ, và nơi đồng vắng trong bốn mươi năm.
37Moses se inge pa mwet se ma tuh fahk nu sin mwet Israel, ‘God El ac fah supwama mwet palu se nu suwos, oana ke El tuh supweyume, ac el ac fah mau sie mwet in mutunfacl suwos.’
37Aáy là Môi-se nầy đã nói cùng con cái Y-sơ-ra-ên rằng: Đức Chúa Trời sẽ dấy lên trong hàng anh em các ngươi một đấng tiên tri giống như ta.
38El pa tuh wi u na lulap se lun mwet Israel su toeni in acn mwesis; el tuh wi mwet matu lasr muta we, ac wi pac lipufan se ma tuh kaskas nu sel fineol Sinai, ac el tuh eis kas moul lun God in tafwema nu sesr.
38Aáy là người, trong dân hội tại nơi đồng vắng, đã ở với thiên sứ, là đấng phán cùng người trên núi Si-na-i, và với tổ phụ chúng ta, người lại nhận lấy những lời sự sống đặng trao lại cho các ngươi.
39“Tusruktu mwet matu lasr elos tia lungse aksol Moses. Elos sisella ac kena folokla nu Egypt.
39Aáy là người mà tổ phụ chúng ta không chịu vâng lời, đã bỏ người đặng nghiêng lòng về xứ Ê-díp-tô,
40Ouinge elos fahk nu sel Aaron, ‘Orala kutu god ah in kol kut. Kut tiana etu lah mea acnu sikyak nu sin mwet se Moses uh, su uskutme liki acn Egypt ah.’
40và nói với A-rôn rằng: Hãy làm các thần đi trước chúng ta; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.
41In pacl sac pa elos tuh orala ma sruloala se in luman cow mukul soko, ac orek kisa nu kac, ac orek kufwa in akfulatye ma se elos sifacna orala.
41Trong những ngày đó, họ đúc một tượng bò con, dâng tế lễ cho tượng và vui mừng về việc tay mình làm nên.
42Ke sripa se inge God El tuh ngetla lukelos, ac eisalosyang in alu nu ke itu inkusrao uh, oana ma fahkak in Ma Simusla lun mwet palu uh, su fahk: ‘Kowos mwet Israel! Ma kowos uniya ac kisakin Ke yac angngaul in acn mwesis ah, Kowos tia oru nu sik.
42Đức Chúa Trời bèn lìa bỏ họ, phú họ thờ lạy cơ binh trên trời, như có chép trong sách các đấng tiên tri rằng: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, vậy có phải các ngươi từng dâng con sinh và của lễ cho ta, Trong bốn mươi năm ở nơi đồng vắng,
43Lohm nuknuk lal god Molech ah pa kowos tuh us forfor ah, Ac ma sruloala in lumal Rephan, god itu lowos; Ma inge kewa ma sruloala ma kowos orala tuh kowos in alu nu kac. Ouinge nga ac fah supwekowosla nu in sruoh nu in sie acn loes liki acn Babylon.’
43Khi các ngươi khiêng nhà trại của Mo-lóc Và ngôi sao của thần Rom-phan, Tức là những hình tượng mà các ngươi làm ra để thờ lạy chăng? Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.
44“Mwet matu lasr elos tuh us Lohm Nuknuk su Nien Muta lun Leum God welulos yen mwesis ah. Tuh orekla oana ke God El fahk nu sel Moses, ac fal nu ke srikasrak ma itukyang Moses el liye ah.
44Đền tạm chứng cớ vốn ở giữa tổ phụ chúng ta trong đồng vắng, như Chúa đã truyền lịnh cho Môi-se phải làm y theo kiểu mẫu người đã thấy.
45Tok, mwet matu lasr elos tuh eis lohm nuknuk sacna, ma papa tumalos tuh sang nu selos, ac elos us welulos ke elos tuh welul Joshua sruokya acn sin mutanfahl ma God El tuh lusak ye mutalos. Na lohm nuknuk sac oanna we nwe ke pacl lal David.
45Tổ phụ chúng ta đã nhận lấy đền tạm ấy, rồi đồng đi với Giô-suê đem vào xứ họ đã chiếm lấy của các dân mà Đức Chúa Trời đã đuổi khỏi trước mặt họ; đền tạm cứ ở đó cho đến đời vua Đa-vít,
46God El tuh insewowo sel David, ac David el siyuk God Elan lela nu sel in musai sie lohm sin God lal Jacob.
46là người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, và xin ban một chỗ ở cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
47Tuh tia el, a Solomon pa tuh musaela lohm se nu sel ah.
47Kế đó, vua Sa-lô-môn cất cho Chúa một cái nhà.
48“Tusruktu God Fulatlana El tia muta in lohm ma orekla ke poun mwet; oana ke mwet palu el fahk,
48Nhưng Đấng Rất Cao chẳng ở trong nhà bởi tay người ta làm ra, như đấng tiên tri đã nói:
49‘Leum God El fahk, Kusrao nien muta fulat luk, Ac faclu ma loangeyen niuk. Lohm fuka se kowos ac musaela sik an? Pia acn nga ac muta we uh?
49Chúa phán: Trời là ngai ta, Đất là bệ chân ta. Nào có nhà nào các ngươi cất cho ta, Có nơi nào cho ta yên nghỉ chăng?
50Ya tia nga pa orala ma inge nukewa uh?’”
50Há chẳng phải tay ta đã dựng nên mọi vật nầy chăng?
51Ac Stephen el fahk, “Seyal kowos arulana likkeke ac lohsr insiowos! Kowos mwet srangesr lohng kas sin God me! Kowos wi pac lain Ngun Mutal oana mwet matu lowos somla!
51Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia! Các ngươi cứ nghịch với Đức Thánh Linh hoài; tổ-phụ các ngươi thế nào, thì các ngươi cũng thế ấy!
52Ku oasr mwet palu ma mwet matu lowos ah tuh tia akkeokye? Elos tuh uniya mwet utuk kas lun God su fahkak oemeet ke Mwet Kulansap suwoswos se lun God su ac tuku. Ac inge kowos tukakunulak ac unilya.
52Há có đấng tiên tri nào mà tổ phụ các ngươi chẳng bắt bớ ư? Họ cũng đã giết những người nói tiên tri về sự đến của Đấng Công bình; và hiện bây giờ chính các ngươi lại đã nộp và giết Đấng đó;
53Kowos pa tuh eis Ma Sap lun God su tutafme sin lipufan ah — ne ouinge, a kowos tiana akos!”
53các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng không giữ lấy!...
54Ke Un Mwet Pwapa Fulat elos lohng kas lal Stephen, elos arulana foloyak ac ngalseni wihselos ke kasrkusrak lalos sel.
54Chúng nghe những lời đó, thì giận trong lòng, và nghiến răng với Ê-tiên.
55Tusruktu Stephen el sesseslana ke Ngun Mutal. El ngetak nu inkusrao ac liye wolana lun God, ac Jesus el tu lac po layot sin God.
55Nhưng người, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời;
56Na el fahk, “Ngetak liye! Nga liye kusrao ikakla, ac Wen nutin Mwet el tu lac po layot sin God!”
56thì người nói rằng: Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời.
57Un Mwet Pwapa Fulat uh wola ke sie pusra lulap ac fonosya insraclos. Na elos nufon tukenina yuyang nu sel,
57Bấy giờ, chúng kêu lớn tiếng lên, bịt lỗ tai lại, cùng nhau chạy a lại,
58sisella nu likin siti uh, ac mutawauk in tanglal. Mwet orek loh lainul elos filiya nuknuk lik lalos yurin sie mwet fusr pangpang Saul.
58kéo người ra ngoài thành, rồi ném đá người. Các kẻ làm chứng lấy áo xống mình để nơi chân một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ.
59Elos nuna tanglal na Stephen ke el pang nu sin Leum ac fahk, “Leum Jesus, eis ngunik!”
59Chúng đang ném đá, thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi.
60El sikukmutuntei, ac wowoyak ke sie pusra lulap ac fahk, “Leum, nimet filiya mwatan ma koluk se inge nu faclos!” Tukun el fahk ma inge, na el misa.
60Đoạn, người quì xuống, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ! Người vừa nói lời đó rồi, thì ngủ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.