Zekaria 4
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HOI hou mai la ka anela i kamailio me au, a hoala mai la ia'u, e like me ka hoala ana i ke kanaka hiamoe.
1Đoạn, thiên sứ nói cùng ta trở lại, đánh thức ta, như một người đương ngủ bị người ta đánh thức.
2Ninau mai la ia ia'u, Heaha kau mea e ike nei? I aku la au, Ua nana aku au, aia hoi, he ipukukui gula okoa, a maluna o kona welau he ipu aila, a maluna iho olaila na kukui ehiku a me na ohe ehiku no ua mau kukui ehiku la o kau ana maluna o kona welau.
2Người nói cùng ta rằng: Ngươi thấy gì? Ta đáp rằng: Tôi nhìn xem, kìa một cái chơn đèn bằng vàng cả, và một cái chậu trên chót nó, nó có bảy ngọn đèn; có bảy cái ống cho mỗi ngọn đèn ở trên chót nó.
3He elua mau laau oliva hoi e kokoke ana ilaila, o kekahi ma ka akau, a o kekahi hoi ma ka hema o ua ipu aila la.
3ỳ kề bên lại có hai cây ô-li-ve, một cây ở bên hữu cái chậu, và một cây ở bên tả.
4Ninau aku la hoi au i ka anela i kamailio me au, i aku la, Heaha ke ano o keia mau mea, e kuu haku?
4Bấy giờ ta cất tiếng nói cùng thiên sứ đương nói với ta như vầy: Hỡi chúa tôi, những điều nầy là gì?
5I mai la ka anela i kamailio me au Aole anei oe i ike i ke ano o keia mau mea? I aku la au, Aole, e kuu haku.
5Thiên sứ nói cùng ta đáp rằng: Ngươi không biết những điều nầy là gì sao? Ta nói: Thưa chúa! tôi không biết.
6Alaila olelo mai la kela, i mai la ia'u penei, O keia ka olelo a Iehova ia Zerubabela, i ka i ana, Aole ma ka mana, aole ma ka ikaika, aka, ma kuu Uhane, wahi a Iehova o na kaua.
6Người đáp lại rằng: Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cho Xô-rô-ba-bên rằng: Aáy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
7Heaha oe, e ka mauna nui? imua o Zerubabela, he papu: a e lawe mai auanei oia i ka pohaku kumu, me ka hookani olioli ana, He aloha! he aloha ia ia!
7Hỡi núi lớn, ngươi là ai? ỳ trước mặt Xô-rô-ba-bên ngươi sẽ trở nên đồng bằng. Nó sẽ đem đá chót ra; sẽ có tiếng kêu rằng: Xin ban ơn, ban ơn cho nó!
8A hiki hou mai la ka olelo a Iehova io'u nei, i ka i ana,
8Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
9Ua hookumu iho la na lima o Zerubabela i keia hale, a na kona mau lima hoi e hoopaa; a e ike auanei oe, na Iehova o na kaua wau i hoouna mai io oukou la.
9Tay Xô-rô-ba-bên đã lập nền nhà nầy, thì tay nó cũng sẽ làm xong; và ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai ta đến cùng các ngươi.
10Nawai la i hoowahawaha i ka la o na mea liilii? E olioli auanei lakou, a e ike hoi i ka pohaku kepau ma ka lima o Zerubabela, o lakou a ehiku. O lakou na maka o Iehova e hele ae ana mai o a ianei ma ka honua a pau.
10Vì ai là kẻ khinh dể ngày của những điều nhỏ mọn? Bảy con mắt Đức Giê-hô-va trải đi qua lại khắp đất, sẽ vui mà xem thấy dây chuẩn mực ở trong tay Xô-rô-ba-bên.
11Alaila, ninau aku la au, i aku la ia ia, Heaha ke ano o kela mau oliva elua ma ka lima akau o ka ipukukui, a ma ka lima hema ona?
11Ta bèn đáp lại cùng người rằng: Hai nhánh ô-li-ve ở bên hữu và bên tả chơn đèn là gì?
12Ninau hou aku la au, i aku la ia ia, Heaha kela mau lala oliva elua e pili ana me na ohe gula, e hookahe ana i ka aila gula mailoko mai o laua?
12Ta lại cất tiếng nói cùng người lần thứ hai mà rằng: Hai nhánh ô-li-ve ở kề bên hai ống vòi vàng, có dầu vàng chảy ra, là gì?
13Ninau mai la kela ia'u, i mai la, Aole oe i ike i keia mau mea? I aku la au, Aole, e ka haku.
13Người đáp rằng: Ngươi không biết những điều đó là gì sao? Ta nói: Thưa chúa, tôi không biết.
14Alaila i mai la kela, O keia no na kanaka elua i poniia i ka aila e ku kokoke ana ma ka Haku o ka honua a pau.
14Người bèn nói rằng: Aáy là hai người chịu xức dầu, đứng bên Chúa của cả đất.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.