Iosua
Chapter 21
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA hookokoke ae la ka poe koikoi o na makua o ka Levi ia Eleazara ke kahuna, a ia Iosua ke keiki a Nuna, a i ka poe koikoi o na makua o na ohana a ka Iseraela;
1Bấy giờ, các trưởng tộc người Lê-vi đến gần thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng tộc của những chi phái Y-sơ-ra-ên,
2A olelo aku la ia lakou ma Silo ma ka aina o Kanaana, i aku la, Ua kauoha mai o Iehova ma ka lima o Mose e haawi mai ia makou i na kulanakauhale kahi e noho ai, a me na wahi e pili ana no ko makou poe holoholona.
2nói cùng họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an, mà rằng: Đức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền ban những thành cho chúng tôi ở, và đất chung quanh thành đặng dùng cho súc vật chúng tôi.
3Alaila, haawi ae la ka poe mamo a Iseraela na ka Levi i kekahi o ko lakou ainahooili e like me ke kauoha a Iehova, i keia mau kulanakauhale me na wahi e pili ana.
3Vậy, dân Y-sơ-ra-ên vâng mạng Đức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp mình những thành sau này, và đất chung quanh nó, mà cấp cho người Lê-vi.
4Ua puka mai ka hailona no na ohua a ka poe Kohata: a lilo i ka poe mamo a Aarona, ke kahuna, no ka Levi, he umikumamakolu kulanakauhale mawaena o ka ohana a Iuda, a me ka ohana a Simeona, a me ka ohana a Beniamina ma ka hailona.
4Người ta bắt thăm cho các họ hàng Kê-hát; những con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành bởi trong chi phái Giu-đa, chi phái Si-mê-ôn, và chi phái Bên-gia-min.
5Aia i ke koena o ka poe Kohata ma ka hailona ana, he umi kulanakauhale, mawaena o ka ohana a Eperaima, a me ka ohana a Dana, a me ka ohana hapa a Manase.
5Còn những con cháu khác của Kê-hát, theo thăm được mười cái thành của chi phái Eùp-ra-im, của chi phái Đan, và của phân nửa chi phái Ma-na-se.
6Aia i ka poe mamo a Geresona, ma ka hailona ana, mawaena o na hale o ka ohana a Isakara, a me ka ohana a Asera, a me ka ohana a Napetali, a me ka ohana hapa a Manase ma Basana, he umikumamakolu kulanakauhale.
6Đoạn, con cháu Ghẹt-sôn, theo thăm được mười ba cái thành của chi phái Y-sa-ca, của chi phái A-se, của chi phái Nép-ta-li, và của phân nửa chi phái Ma-na-se ở Ba-san.
7Aia i ka poe mamo a Merari ma ko lakou poe ohua, ma ka hailona ana mawaena o ka ohana a Reubena, a no ka ohana a Gada, a no ka ohana a Zebuluna; he umikumamalua na kulanakauhale.
7Con cháu Mê-ra-ri, tùy theo những họ hàng của chúng, được mười hai cái thành của chi phái Ru-bên, của chi phái Gát, và của chi phái Sa-bu-lôn.
8Ua haawi ae la ka poe mamo a Iseraela i ka Levi poe ma ka hailona ana i keia mau kulanakauhale a me na wahi e pili ana, e like me ka Iehova i kauoha mai ai ma ka lima o Mose.
8Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành đó với đất chung quanh, y như Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dặn cho.
9Ua haawi ae la lakou noloko ae o ka ohana a Iuda, a noloko mai o ka ohana a Simeona, i keia mau kulanakauhale i palapalaia ma ka inoa,
9Vậy, dân Y-sơ-ra-ên lấy trong chi phái Giu-đa và trong chi phái Si-mê-ôn, các thành có chỉ tên đây, mà cấp cho.
10Na mea i lilo i ka poe mamo a Aarona, no ko ka hale o Kohata no ka Levi; no ka mea, no lakou ka hailona mua ana.
10Con cháu A-rôn về dòng Kê-hát, là con trai Lê-vi, được các thành ấy; vì phần thứ nhất bắt thăm trúng về họ.
11Ua haawi ae la ia lakou, i ke kulanakauhale o Areba, ka makua o Anaka, o Heberona ia ma ka mauna o Iuda, a me na wahi e pili ana ilaila a puni.
11Người ta bèn cấp cho họ thành Ki-ri-át-A-ra-ba, (A-ra-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn ở trên núi Giu-đa, và đất chung quanh thành đó.
12Aka, o na kula e pili ana i ke kulanakauhale a me kona mau kauhale, ua haawiia ia Kaleba ke keiki a Iepune i ainahooili nona.
12Còn địa phận của thành, và các làng nó, thì người ta cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.
13Haawi no hoi lakou i ka poe mamo a Aarona ke kahuna ia Heberona, a me kona wahi e pili ana i puuhonua no ka poe pepehi, a me Libena kekahi a me kona wahi e pili ana,
13Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, là thành ẩn náu cho kẻ sát nhân, và đất chung quanh thành; Líp-na và đất chung quanh thành,
14O Iatira a me kona wahi e pili ana, o Esetemoa a me kona wahi e pili ana,
14Giạt-thia và đất chung quanh thành, Ê-thê-mô-a và đất chung quanh thành,
15O Holona a me kona wahi e pili ana, o Debira, a me kona wahi e pili ana,
15Hô-lôn và đất chung quanh thành, Đê-bia và đất chung quanh thành,
16O Aina a me kona wahi e pili ana, o Iuta a me kona wahi e pili ana, o Betesemesa a me kona wahi e pili ana. Eiwa kulanakauhale noloko mai o keia mau ohana elua.
16A-in và đất chung quanh thành, Giu-ta và đất chung quanh thành, Bết-Sê-mết và đất chung quanh thành: hết thảy chín cái thành của hai chi phái này.
17A noloko mai o ka ohana a Beniamina, o Gibeona a me kona wahi e pili ana, o Geba a me kona wahi e pili ana,
17Người ta lại lấy trong chi phái Bên-gia-min mà cấp cho họ. Ga-ba-ôn và đất chung quanh thành, Ghê-ba và đất chung quanh thành,
18O Anetota a me kona wahi e pili ana, o Alemona a me kona wahi e pili ana. Eha mau kulanakauhale.
18A-na-tốt và đất chung quanh thành, cùng Anh-môn và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
19O na kulanakauhale a pau o na keiki a Aarona ke kahuna, he umikumamakolu kulanakauhale, a me ko lakou mau wahi e pili ana.
19Cộng các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, là mười ba cái thành với đất chung quanh.
20A i ko ka hale o na keiki a Kohata, ka poe Levi i koe iho no na keiki a Kohata, no lakou na kulanakauhale noloko mai o ka ohana a Eperaima.
20Những người Lê-vi thuộc về họ hàng con cháu khác của Kê-hát, được mấy thành trong chi phái Eùp-ra-im làm phần của mình.
21No ka mea, ua haawiia no lakou o Sekema a me kona wahi e pili ana, me ka mauna o Eperaima, i puuhonua no ka mea pepehi kanaka; o Gezera hoi a me kona wahi e pili ana,
21Người ta cấp cho họ Si-chem, thành ẩn náu cho kẻ sát nhân, ở trên núi Eùp-ra-im, và đất chung quanh thành, Ghê-xe và đất chung quanh thành,
22O Kibezaima a me kona wahi e pili ana, a me Betehorona a me kona wahi e pili ana; eha kulanakauhale.
22Kíp-sa-im và đất chung quanh thành, Bết-Hô-rôn và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
23A no ka ohana a Dana, o Eleteka a me kona wahi e pili ana, a me Gibetona a me kona wahi e pili ana,
23Người ta lấy trong chi phái Đan, cấp cho họ Eân-thê-kê và đất chung quanh thành, Ghi-bê-thôn và đất chung quanh thành,
24O Aialona a me kona wahi e pili ana, o Gaterimona a me kona wahi e pili ana; eha kulanakauhale.
24A-gia-lôn và đất chung quanh thành, Gát-Rim-môn và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
25A no ka ohana hapa a Manase, o Tanaka a me kona wahi e pili ana, o Gaterimona kekahi a me kona wahi e pili ana; elua kulanakauhale.
25Lại lấy trong phân nửa chi phái Ma-na-se, Tha-a-nác và đất chung quanh thành, Gát-Rim-môn và đất chung quanh thành: hết thảy hai cái thành.
26O na kulanakauhale a pau, he umi no, a me ko lakou mau wahi e pili ana no na ohua a na keiki i koe a Kohata.
26Cọng là mười cái thành và đất chung quanh thành cho những họ hàng của các con cháu khác của Kê-hát.
27A no na keiki a Geresona no ka Levi poe noloko mai o ka ohana hapa a Manase, o Golana, ma Basana, a me kona wahi e pili ana, i kulanakauhale puuhonua no ka pepehi kanaka, a me Beesetera a me na wahi e pili ana; elua kulanakauhale.
27Người ta cũng lấy trong phân nửa chi phái Ma-na-se, thành Gô-lan ở xứ Ba-san, là thành ẩn náu cho kẻ sát nhân, mà cấp cho con cháu Ghẹt-sôn về các họ hàng Lê-vi, và đất chung quanh thành ấy, Bết-ê-ra và đất chung quanh thành: hết thảy hai cái thành.
28A noloko mai o ka ohana a Isakara, o Kisona a me kona wahi e pili ana, o Dabare, a me kona wahi e pili ana,
28Lại lấy trong chi phái Y-sa-ca, Ki-si-ôn và đất chung quanh thành, Đáp-rát và đất chung quanh thành,
29O Iaremuta a me kona wahi e pili ana, o Eneganima a me kona wahi e pili ana; eha kulanakauhale.
29Giạt-mút và đất chung quanh thành, Eân-gia-nim và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
30A noloko mai o ka ohana a Asera, o Miseala a me kona wahi e pili ana, o Abedona, a me kona wahi e pili ana,
30Từ trong chi phái A-se, lấy Mi-sê-anh và đất chung quanh thành, Aùp-đôn và đất chung quanh thành,
31O Helekata a me kona wahi e pili ana, o Rehoba a me kona wahi e pili ana; eha kulanakauhale.
31Hên-cát và đất chung quanh thành Rê-hốp và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
32A noloko mai o ka ohana a Napetali, o Kedesa ma Galilaia, a me kona wahi e pili ana, i kulanakauhale puuhonua no ka mea pepehi kanaka, o Hamotadora a me kona wahi e pili ana, o Karetana a me kona wahi e pili ana; ekolu kulanakauhale.
32Cũng lấy trong chi phái Nép-ta-li, thành Kê-đe ở Ga-li-lê là thành ẩn náu cho kẻ sát nhân, và đất chung quanh, Ha-mốt-Đô-rơ và đất chung quanh thành, Cạt-than và đất chung quanh thành: hết thảy ba cái thành.
33O na kulanakauhale a pau o ka poe Geresona ma ko lakou hale, he umikumamakolu kulanakauhale a me ko lakou mau wahi e pili ana.
33Cọng các thành của người Ghẹt-sôn, tùy theo những họ hàng, là mười ba cái thành với đất chung quanh.
34No na hale o ka poe mamo a Merari, o ka poe Levi i koe noloko mai o ka ohana a Zebuluna, o Iokeneama me kona wahi e pili ana, o Kareta, a me kona wahi e pili ana,
34Người ta cũng lấy trong chi phái Sa-bu-lôn mà cấp cho những họ hàng con cháu Mê-ra-ri, tức là những người Lê-vi sau chót, thành Giốc-nê-am và đất chung quanh thành, Cạt-ta và đất chung quanh thành.
35O Dimena a me kona wahi e pili ana, o Nahalala hoi a me kona wahi e pili aua; eha kulanakauhale.
35Đim-na và đất chung quanh thành, Na-ha-la và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
36A noloko mai o ka ohana a Reubena, o Bezera a me kona wahi e pili ana, o Iahaza a me kona wahi e pili ana,
36Từ trong chi phái Ru-bên, lấy thành Bết-se và đất chung quanh thành, Giát-sa và đất chung quanh thành,
37O Kedemota a me kona wahi e pili ana, o Mepaata a me kona wahi e pili ana; eha kulanakauhale.
37Kê-đê-mốt và đất chung quanh thành, Mê-phát và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
38A noloko mai o ka ohana a Gada, o Ramota ma Gileada a me kona wahi e pili ana, i kulanakauhale puuhonua no ka mea pepehi kanaka; o Mahanaima hoi a me kona wahi e pili ana,
38Lại lấy trong chi phái Gát, thành Ra-mốt ở xứ Ga-la-át, là thành ẩn náu cho kẻ sát nhân, và đất chung quanh thành, Ma-ha-na-im và đất chung quanh thành,
39O Hesebona a me kona wahi e pili ana, o Iazera a me kona wahi e pili ana: eha kulanakauhale.
39Hết-bôn và đất chung quanh thành, Gia-ê-xe và đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
40Oia na kulanakauhale a pau no ka poe keiki a Merari ma ko lakou mau hale, o ka poe i koe no na hale o ka Levi, na lakou, ma ka hailona, he umi kulanakauhale a me kumamalua.
40Cộng các thành cấp cho con cháu Mê-ra-ri, tùy theo những họ hàng của chúng, tức là dư hậu các họ hàng Lê-vi, là mười hai cái thành.
41O na kulanakauhale a pau o ka poe Levi noloko mai o ka ainahooili o ka poe mamo a Iseraela, he kanaha kulanakauhale, a me kumamawalu, a me ko lakou mau wahi e pili ana.
41Cộng các thành người Lê-vi ở giữa sản nghiệp dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám cái thành cùng đất chung quanh thành.
42O keia mau kulanakauhale aia no lakou me ko lakou mau wahi e pili ana a puni. Pela keia mau kulanakauhale a pau.
42Mỗi thành ấy đều có đất chung quanh; hết thảy thành cũng đều như vậy.
43A ua haawi mai o Iehova i ka Iseraela i ka aina a pau ana i hoohiki ai e haawi i ko lakou poe makua, a ua lilo ia no lakou, a ua noho lakou malaila.
43Thế thì, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ họ. Dân Y-sơ-ra-ên nhận làm sản nghiệp, và ở tại đó.
44Ua hoomaha mai la o Iehova ia lakou a puni, e like me na mea a pau ana i hoohiki ai i ko lakou poe makua: aole kekahi kanaka o ko lakou poe enemi e hiki ai ke ku imua o lakou; no ka mea, ua haawi mai la o Iehova i ko lakou poe enemi a pau iloko o ko lakou mau lima.
44Đức Giê-hô-va làm cho tứ phía đều được an nghỉ, y như Ngài đã thề cùng tổ phụ họ, chẳng có một kẻ thù nghịch nào còn đứng nổi trước mặt họ. Đức Giê-hô-va phó hết thảy kẻ thù nghịch vào tay họ.
45Aole haule kekahi mea o na mea maikai a Iehova i olelo mai ai i ka hale o ka Iseraela. Ua pau i ka hookoia mai.
45Trong các lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành: thảy đều ứng nghiệm hết.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.