Tesalonike I.
Chapter 2

Tesalonike I.

Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1U A ike hoi oukou, e na hoahanau, i ko makou komo ana iwaena o oukou, aole ia he mea ole;
1Hỡi anh em, chính anh em biết rõ rằng chúng tôi đã đến nơi anh em, ấy chẳng phải là vô ích đâu;
2Aka, i ko makou eha mua ana'e me ka hoino wale ia mai, ma Pilipi, ua ike oukou, ua wiwo ole ae la makou ma ko kakou Akua i ka hai aku ia oukou i ka euanelio a ke Akua, me ka paio nui ana.
2nhưng sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Phi-líp, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Đức Chúa Trời, cứ rao truyền đạo Tin Lành của Đức Chúa Trời cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến.
3No ka mea, aole ma ka wahahee ka makou ao ana aku, aole hoi ma ka haumia aole hoi ma ka hoopunipuni;
3Vì sự giảng đạo của chúng tôi chẳng phải bởi sự sai lầm, hoặc ý không thanh sạch, cũng chẳng dùng điều gian dối.
4Aka, me ka haawi ana mai o ke Akua ia makou, i kauohaia mai ka euanelio ia makou, pela hoi makou e olelo aku nei; aole me he mea hoolealea la i kanaka, aka, i ke Akua, i ka mea nana ko kakou naau i hoao mai nei.
4Nhưng vì Đức Chúa Trời đã xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Tin Lành, nên chúng tôi cứ nói, không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng chúng tôi.
5Aole makou i lawe i na hua olelo malimali, ua ike oukou; aole hoi i ka hookohu o ka makee waiwai; o ke Akua ka mea ike.
5Vả, anh em có biết, chúng tôi không hề dùng những lời dua nịnh, cũng không hề bởi lòng tư lợi mà làm, có Đức Chúa Trời chứng cho.
6Aole makou i imi i ka hoonaniia mai e kanaka, aole hoi e oukou, aole hoi e hai, i ka wa pono e lilo ai makou i poe hookaumaha, me he mau lunaolelo la na Kristo.
6Dẫu rằng chúng tôi có thể bắt anh em tôn trọng chúng tôi, vì là sứ đồ của Đấng Christ, song cũng chẳng cầu vinh hiển đến từ loài người, hoặc từ nơi anh em, hoặc từ nơi kẻ khác.
7Ua ahonui makou iwaena o oukou, e like me ka wahine hanai la, e malama ana i kana mau keiki:
7Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy.
8Oia, me ko makou aloha nui aku ia oukou, ua oluolu makou ke haawi aku, aole i ka euanelio wale no a ke Akua ia oukou, aka, i ko makou ola kekahi, no ka mea, he hiwahiwa oukou na makou.
8Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao.
9Ke hoomanao nei no oukou, e na hoahanau, i ka makou hana, a me ko makou luh! ana hoi; e hana ana i ka po a me ke ao, i ole ai makou e lilo i mea e luhi ai kekahi o oukou, pela makou i hai aku ai ia oukou i ka euanelio a ke Akua.
9Hỡi anh em, anh em còn nhớ công lao, khó nhọc của chúng tôi; ấy là trong khi chúng tôi giảng Tin Lành cho anh em, lại cũng làm việc cả ngày lẫn đêm, để cho khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết.
10O oukou ko makou poe hoike, a o ke Akua kekahi, i ka hemolele, a me ka pono, a me ka hala ole o ko makou noho ana iwaena o oukou ka poe i manaoio.
10Anh em làm chứng, Đức Chúa Trời cũng làm chứng rằng cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được.
11Ua ike hoi oukou i ko makou hooikaika ana'ku, a me ka hooluolu ana'ku, a me ke kauoha ana'ku ia oukou a pau, me he makuakane la i kana mau keiki,
11Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con,
12I hele pono oukou ma ka pono o ke Akua, ka mea nana oukou i hea mai iloko o kona aupuni, a i kona nani.
12khuyên lơn, yên ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến nước Ngài và sự vinh hiển Ngài.
13No ia mea hoi i hoomaikai mau aku ai makou i ke Akua, no ka mea, i ka loaa ana ia oukou o ka ke Akua olelo a oukou i lohe mai ai ia makou nei, aole oukou i apo mai ia me ho olelo la na kanaka, aka, he olelo no na ke Akua, he oiaio no ia, o ka mea i hooikaika nui iloko o oukou o ka poe i manaoio.
13Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin.
14No ka mea, ua lilo mai oukou, e na hoahanau, i mau mea hoohalike me na ekalesia o ke Akua, ma ludea, iloko o Kristo Iesu; no ka mea, ua hoinoia mai hoi oukou e ko ka aina o oukou iho, e like me lakou e ka poe Iudaio;
14Hỡi anh em, anh em thật đã trở nên người bắt chước các hội thánh của Đức Chúa Trời tại xứ Giu-đê, là các Hội thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ: anh em đã chịu khổ bởi người đồng xứ mình, cũng như chính các Hội Thánh ấy chịu khổ bởi người Giu-đa,
15Ka poe i pepehi i ka Haku ia Iesu, a i ko lakou poe kaula hoi, a i alualu kolohe mai hoi ia makou; aole no e hooluolu i ke Akua, a ua ku e i na kanaka a pau.
15là người đã giết Đức Chúa Jêsus và các Đấng tiên tri, đã bắt bớ chúng tôi; làm trái ý Đức Chúa Trời và thù nghịch với mọi người nữa,
16Ua keakea mai la lakou ia makou i ka olelo aku i ko na aina e e ola'i lakou, e hoopiha mau ana i ko lakou hewa; aka, e kau mai ana ka inaina nui loa maluna iho o lakou.
16ngăn trở chúng tôi giảng dạy dân ngoại cho được cứu, lại hằng đầy dẫy cái lượng tội lỗi mình. Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sau hết đã đến trên họ.
17Aka, o makou la, e na hoahanau, ua hookaawaleia mai nei mai o oukou mai la, i keia mau la, o ko makou kino, aole ka naau, ua ma kemake loa makou e ike hou aku i ko oukou mau maka, ua hooikaika nui aku ilaila.
17Hỡi anh em, về phần chúng tôi, đã xa cách anh em ít lâu nay, thân tuy cách nhưng lòng không cách, chúng tôi đã nôn nả biết bao, tìm phương để thỏa lòng ao ước, lại thấy mặt anh em.
18No ia mea, o ko makou manao e hele aku io oukou la, owau o Paulo kekahi i keia manawa a i keia manawa; aka, ua alalai mai la o Satana ia makou.
18Vì vậy, đã hai lần, chúng tôi, nhất là tôi, Phao-lô, muốn đi đến cùng anh em; nhưng quỉ Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi.
19Heaha hoi ko makou manaolana a me ka olioli, a me ka lei e hauoli ai makou? aole anei o oukou ia, i ke alo o ko kakou Haku o Ieau Kristo i kona hiki ana mai?
19Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao?
20No ka mea, o oukou no ka nani a me ka olioli o makou.
20Phải, anh em thật là sự vinh hiển và vui mừng của chúng tôi vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.