Nehemiah 7
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tapang sak pacoeng naah, thoknawk to ka buenh moe, khongkha toep kaminawk, laasah kaminawk hoi Levi kaminawk to ka suek.
1Khi vách thành đã xây xong, và tôi đã tra các cánh cửa, lập những người giữ cửa, kẻ ca hát, và người Lê-vi trong chức việc của họ,
2Oepthok, Sithaw zii kami, siangpahrang ohhaih ahmuen khenzawnkung, Hananiah hoi kam nawk Hanani khaeah Jerusalem vangpui to ka aap,
2thì tôi giao phó việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho Ha-na-ni, em tôi, và cho Ha-na-nia, quan tể cung; vì là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.
3nihnik khaeah, Ni bae ai karoek to Jerusalem khongkha to paong hoi hmah; khongkha toep kaminawk mah thok to kha o nasoe loe, takraeng o nasoe; Jerusalem ih kaminawk mah angmacae taengah misatoep suem o boih nasoe, tiah ka naa.
3Tôi dặn chúng rằng: Chớ mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời nắng nóng; người ta phải đóng cánh cửa, và gài then lại trong lúc kẻ giữ cửa còn ở tại đó; lại phải đặt người trong dân Giê-ru-sa-lem theo phiên mà canh giữ, mỗi người đứng canh nơi đối ngang nhà mình.
4Vangpui loe len moe, kawk parai; toe athung ah kami zetta ni oh o; imnawk doeh pacoeng o boih ai vop.
4Vả, thành thì rộng rãi lớn lao, còn dân sự ở trong nó lại ít, và nhà mới thì chưa có cất.
5To naah angraengnawk, ukkungnawk hoi kaminawk boih, acaeng anghumhaih takung to parui hanah, Sithaw mah poekhaih ang paek. Hmaloe koek amlaem kaminawk ih acaeng anghumhaih kawng paruihaih cabu to ka hnuk.
5Đức Chúa Trời tôi có cảm động lòng tôi chiêu tập những người tước vị, các quan trưởng, và dân sự, đặng đem chúng vào sổ từng gia phổ. Tôi có tìm đặng một cuốn bộ gia phổ của những người đã trở lên lần đầu, và trong đó tôi thấy có ghi rằng:
6Hae kaminawk loe Babylon siangpahrang Nebukhadnezzar mah misong ah naeh ih kami, misong ah naeh ih prae thung hoiah kamlaem, prae thungah kaom kami ah oh o moe, angmacae ohhaih vangpui, Jerusalem hoi Judah prae ah amlaem let kami ah oh o boih;
6Này là các người tỉnh Giu-đa từ nơi làm phu tù được trở lên, tức những kẻ thuộc trong bọn bị Nê-bu-ca-nết-sa bắt dẫn tù; chúng trở lại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, ai nấy đều về bổn thành mình;
7to kaminawk loe Zerubbabel, Jeshua, Nehemiah, Azariah, Raamiah, Nahamani, Mordekai, Bilshan, Mispereth, Bigvai, Nehum hoi Baanah hoi nawnto angzoh o; milu kok ih Israel kaminawk loe;
7chúng trở về với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Bê-hum, và Ba-a-na. Nầy là số tu bộ những người nam của dân Y-sơ-ra-ên;
8Parosh ih capanawk thung hoiah sang hnet, cumvai, qui sarih, hnetto,
8Về con cháu Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người;
9Shephatiah ih capanawk thung hoiah cumvai thum, qui sarih, hnetto,
9về con cháu Sê-pha-tia, ba trăm bảy mươi hai người.
10Arah ih capanawk thung hoiah cumvai taruk, qui panga, hnetto,
10Về con cháu A-ra, sáu trăm năm mươi hai người.
11Pahath-Moab acaeng Joshua hoi Joab ih capanawk loe sang hnet, cumvai tazet, hatlai tazetto,
11Về co cháu Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai ngàn tám trăm mười tám người.
12Elam ih capanawk loe sang, cumvai hnet, qui panga, palito,
12Về co cháu Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
13Zattu ih capanawk loe cumvai tazet, qui pali, pangato,
13Về con cháu Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người.
14Zakkai ih capanawk loe cumvai sarih, quitarukto,
14Về con cháu Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.
15Binnui ih capanawk loe cumvai taruk, qui pali, tazetto,
15Về con cháu Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người.
16Bebai ih capanawk loe cumvai taruk, pumphae tazetto,
16Về con cháu Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người.
17Azgad ih capanawk loe sang hnet, cumvai thum, pumphae hnetto,
17Về con cháu A-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người.
18Adonikam ih capanawk loe cumvai taruk, qui taruk, sarihto,
18Về con cháu A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người.
19Bigvai ih capanawk loe sang hnet, qui taruk, sarihto,
19Về con cháu Biết-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người.
20Adin ih capanawk loe cumvai taruk, qui panga, pangato,
20Về con cháu A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người.
21Ater hoi Hezekiah ih capanawk loe qui takawt, tazetto,
21Con cháu A-te, về dòng dõi Ê-xê-chia, có chín mươi tám người.
22Hashum ih capanawk loe cumvai thum, pumphae tazetto,
22Về con cháu Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người.
23Bezai ih capanawk loe cumvai thum, pumphae palito,
23Về con cháu Bết-sai, ba trăm hai mươi bốn người.
24Hariph ih capanawk loe cumvai, hatlai hnetto,
24Về con cháu Ha-ríp, một trăm mười hai người.
25Gibeon ih capanawk loe qui takawt, pangato,
25Về con cháu Ga-ba-ôn, chín mươi lăm người.
26Bethlehem hoi Netophah ih capanawk loe cumvai, qui tazet, tazetto,
26Về những người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người.
27Anathoth ih capanawk loe cumvai, pumphae, tazetto,
27Về những người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám người.
28Beth Azma veth ih capanawk loe qui pali, hnetto,
28Về những người Bết-A-ma-vết, bốn mươi hai người.
29Kiriath Jearim, Khephirah hoi Beeroth ih capanawk loe cumvai sarih, qui pali, thumto,
29Về những người Ki-ri-át-Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.
30Ramah hoi Geba ih capanawk loe cumvai taruk, pumphae, maeto,
30Về những người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.
31Mikmash ih capanawk loe cumvai, pumphae hnetto,
31Về những người Mích-ma, một trăm hai mươi hai người,
32Bethel hoi Ai ih capanawk loe cumvai, pumphae thumto,
32Về những người Bê-tên và A-hi, một trăm hai mươi ba người.
33Kalah Nebo ih capanawk loe qui panga, hnetto,
33Về những người Nê-bô khác, năm mươi hai người.
34Kalah Elam ih capanawk loe sang, cumvai hnet, qui panga, palito,
34Về con cháu Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
35Harim ih capanawk loe cumvai thum, pumphaeto,
35Về con cháu Ha-rim, ba trăm hai mươi người.
36Jeriko ih capanawk loe cumvai thum, qui pali, pangato,
36Về con cháu Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.
37Lod, Hadid hoi Ono ih capanawk loe cumvai sarih, pumphae maeto,
37Về con cháu của Lô-đơ, của Ha-đít, và của Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người.
38Senaah ih capanawk loe sang thum, cumvai takawt, quithumto,
38Về con cháu Sê-na, ba ngàn chín trăm ba mươi người.
39Qaimanawk; Jeshua acaeng thung ih, Jedaiah ih capanawk loe cumvai takawt, qui sarih, thumto,
39Những thầy tế lễ: Về con cháu Giê-đa-gia, nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.
40Immer ih capanawk loe sang, qui panga, hnetto,
40Về con cháu Y-mê, một ngàn năm mươi hai người.
41Passhur ih capanawk loe sang, cumvai hnet, qui pali, sarihto,
41Về con cháu Pha-ru-sơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.
42Harim ih capanawk loe sang, hatlai sarihto,
42Về con cháu Ha-rim, một ngàn mười bảy người.
43Levinawk; Hodaviah acaeng, Jeshua hoi anghum tathuk, Kadmiel ih capanawk loe qui sarih, palito oh o.
43Người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và của Cát-mi-ên, về dòng dõi Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.
44Laasah kaminawk; Asaph ih capanawk loe cumvai, qui pali, tazetto oh o.
44Người ca hát: Về con cháu A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.
45Khongkha toep kaminawk; Shallum, Ater, Talmon, Akkub, Hatita hoi Shobai ih capanawk loe cumvai, qui thum, tazetto oh o.
45Kẻ giữ cửa: Về con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-la, và con cháu Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.
46Nethinims tiah kawk ih im thungah toksah tamnanawk loe, Ziha ih capanawk, Hashupha ih capanawk, Tabbaoth ih capanawk,
46Người Nê-thi-nim: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
47Keros ih capanawk, Sia ih capanawk, Padon ih capanawk,
47con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn,
48Lebana ih capanawk, Hagaba ih capanawk, Shalmai ih capanawk,
48con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,
49Hanan ih capanawk, Giddel ih capanawk, Gahar ih capanawk,
49con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha;
50Reaiah ih capanawk, Rezin ih capanawk, Nekoda ih capanawk,
50con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,
51Gazzam ih capanawk, Uzza ih capanawk, Paseah ih capanawk,
51con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a,
52Besai ih capanawk, Meunim ih capanawk, Nephishesim ih capanawk,
52con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sê-sim,
53Bakbuk ih capanawk, Hakupha ih capanawk, Harhur ih capanawk,
53con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
54Bazlith ih capanawk, Mehida ih capanawk, Harsha ih capanawk,
54con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
55Barkos ih capanawk, Sisera ih capanawk, Temah ih capanawk,
55con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
56Neziah hoi Hatipha ih capanawk hae ni.
56con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
57Solomon tamannawk ih caa patoengnawk; Sotai ih capanawk, Sophereth ih capanawk, Perida ih capanawk,
57Dòng dõi các đầy tớ của Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa,
58Jaala ih capanawk, Darkon ih capanawk, Giddel ih capanawk,
58con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,
59Shephatiah ih capanawk, Hattil ih capanawk, Pokereth ih capanawk, Zebaim hoi Amon ih capanawk,
59con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kế-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-mon.
60im thung toksah tamnanawk hoi Solomon tamnanawk ih capanawk loe cumvai thum, qui takawt, hnetto oh o.
60Tổng cộng các người Nê-thi-nim và con cháu các đầy tớ của Sa-lô-môn, là ba trăm chín mươi hai người.
61To pacoengah Israel kami tangtang maw, tangtang ai, tiah patuek thai ai, angmacae ampa ih imthung takoh hoi acaengnawk doeh patuek thai ai, Tel Melah, Tel Haresha, Kherub, Addon hoi Immer vangpui hoi angzo kaminawk loe,
61Nầy là những người ở từ Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn, và từ Y-mê mà đi lên; nhưng chúng nó không thể chỉ ra nhà của tổ phụ mình và gốc gác của họ, hoặc thuộc về Y-sơ-ra-ên hay chăng:
62Delailah ih capanawk, Tobiah hoi Nekoda ih capanawk loe, cumvai taruk, qui pali, hnetto,
62con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm bốn mươi hai người.
63Qaimanawk thungah; Hobaiah ih capanawk, Koz hoi Barzillai ih capanawk (hae kami loe Gilead ih kami Barzillai ih canu zu haih pongah anih ih ahmin, Barzillai to patoh) loe,
63Về những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai, là người lấy vợ trong vòng con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, và được gọi bằng tên của họ.
64nihcae loe acaeng anghumhaih kawng pakuemhaih cabu thungah angmacae ih ahmin to hnu o ai; nihcae loe acaeng ciim ai pongah, qaima angdoethaih ahmuen hoiah takhoe o ving.
64Các người ấy tìm kiếm gia phổ mình, nhưng không thấy, bèn bị trừ ra chức tế lễ, kể cho là ô uế.
65To pongah Tirshatha (prae ukkung mah), nangcae loe qaima tangtang maw tangtang ai, tiah Urim hoi Thummim khae hoiah amtuenghaih om ai karoek to, kaciim koek caaknaek to na caa o mak ai, tiah a naa.
65Quan tổng trấn cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng có một thầy tế lễ dấy lên dùng U-rim và Thu-nim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.
66Nihcae ih capanawk loe sangqum boih ah sing pali, sang hnet, cumvai thum, quitarukto oh o,
66Cả hội chúng hiệp lại được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người,
67to pacoengah nongpa hoi nongpata tamnanawk loe sang sarih, cumvai thum, qui thum, sarihto oh o vop; laasah nongpa nongpata kaminawk loe cumvai hnet, qui pali, pangato oh bae vop.
67không kể những tôi trai tớ gái của dân, số được bảy ngàn ba trăm ba mơi bảy người; cũng có hai trăm bốn mươi lăm kẻ ca hát, nam và nữ.
68Nihcae ih Hrang loe cumvai sarih, qui thum, tarukto, mule hrang cumvai hnet, qui pali, pangato,
68Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
69kaengkuu hrang cumvai pali, qui thum, pangato, laa hrang sang taruk, cumvai sarih, pumphaeto oh.
69bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
70Thoemto acaeng ukkungnawk mah toksakhaih hmuenmaenawk to paqum o. Tirshatha (prae ukkung) mah doeh, sum kanglung dram sangto, boengloeng quipangato, qaima khukbuen cumvai panga, quithumto hmuenmae pakuemkung khaeah paek.
70Có mấy trưởng tộc đem của cung tiến đặng giúp làm công việc. Quan tổng trấn dâng cho kho một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi cái chậu, và năm trăm ba mươi cái áo thầy tế lễ.
71Acaeng ukkung thoemto kaminawk mah toksak haih hanah, tangka pakuemkung khaeah, sui drama sing hnetto, sumkanglung boengloeng sang hnet, cumvai hnetto paek o.
71Có mấy trưởng tộc dâng vào kho tạo tác hai vạn đa-riếc vàng, và hai ngàn hai trăm min bạc.
72Minawk kalah mah sui drama sing hnetto, sumkanglung boengloeng sang hnetto, qaimanawk hanah khukbuen qui taruk, sarihto paqum o.
72Còn vật dân sự khác dâng, được hai vạn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy cái áo thầy tế lễ.
73To pongah, qaimanawk, Levi acaengnawk, khongkha toep kaminawk, laasah kaminawk hoi im ah toksah Nethinim tamnanawk, thoemto kaminawk hoi kanghmat Israelnawk boih loe angmacae ih vangpui ah oh o; khrah sarihto phak naah, Israel caanawk loe angmacae ih vangpui ah ah oh o.
73Aáy vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ giữ cửa, kẻ ca hát, mấy người trong dân, và người Nê-thi-nim, cùng cả Y-sơ-ra-ên, đều ở trong các thành của mình. Khi tháng bảy đến, thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.