Kalati 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Saning hatlai palito laemh pacoengah, Titu doeh ka hoih moe, Barnaba hoi nawnto Jerusalem ah ka caeh let.
1Sau đó mười bốn năm, tôi lại lên thành Giê-ru-sa-lem với Ba-na-ba, có đem Tít cùng đi nữa.
2Kangphong lok hnuksakhaih hoiah ka caeh moe, Gentelnawk khaeah ka thuih ih tamthanglok hoih to nihcae khaeah ka thuih pae, toe ka sak tangcae tok hoi ka sak han koi tok to azom pui ah oh han ai ah, ahmin kamthang kaminawk khaeah ni tamquta hoiah ka thuih.
2Tôi vâng theo lời tỏ ra mà lên đó, phô bày Tin Lành mà tôi đã giảng trong người ngoại đạo ra cho anh em; lại phô bày riêng cho những kẻ có danh vọng hơn hết, kẻo sự chạy của tôi trước kia và bây giờ hóa ra vô ích chăng.
3Kai hoi nawnto kaom Titu loe, Greek kami ah oh, toe tangzat hin ka aatsak nganga ai.
3Dầu Tít, kẻ cùng đi với tôi, là người Gờ-réc, cũng không bị ép phải cắt bì.
4Kri Jesu ah a tawnh o ih loihhaih to khet moe, aicae misong ah ohsak hanah tamquta hoi aicae thungah a kun o sak ih, kahoih ai nawkamyanawk pongah ni to tiah a sak o:
4Chúng tôi đã làm như vậy, vì cớ mấy người anh em giả, lẻn vào trong vòng chúng tôi, để rình xem sự tự do mà chúng tôi được trong Đức Chúa Jêsus Christ, đặng bắt chúng tôi làm tôi mọi.
5toe loktang tamthanglok hoih nangcae khaeah oh thaih poe hanah, nihcae han ahmuen ka paawh pae o ai, atue maeto thung mataeng doeh ka paek pae o ai.
5Chúng tôi không nhường họ một giây phút nào, chối chẳng chịu thuộc dưới quyền họ, hầu cho lẽ thật của Tin Lành được vững bền trong anh em.
6Lokpui ah kaom kaminawk hoi (kai hanah loe kawbaktih kami doeh lahhaih om ai: Sithaw loe kami mikhmai to khen ai:) lokpui ah poek o ih kaminawk loe, kai han amekhaih tidoeh om ai.
6Còn như những kẻ mà người ta tôn trọng lắm, (trước kia là kẻ thể nào, thì chẳng can dự gì với tôi, Đức Chúa Trời không tây vị ai hết), tôi nói, những kẻ đó dầu tôn trọng lắm, cũng chẳng làm cho tôi thêm ích chút nào.
7Piter khaeah tangzat hin aahhaih kahoih tamthanglok paek baktih toengah, kai khaeah doeh tangzat hin aat ai kahoih tamthanglok to paek toeng, tito nihcae mah panoek o;
7Trái lại, họ thấy sự giảng Tin Lành cho kẻ không chịu phép cắt bì đã giao cho tôi, cũng như sự giảng Tin Lành cho người chịu phép cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ vậy,
8(tangzat hin aat kaminawk khaeah patoeh ih kami ah oh hanah, Piter nuiah toksah Anih loe, Gentelnawk khaeah toksah kai khaeah doeh toksak toeng:)
8vì Đấng đã cảm động trong Phi-e-rơ để sai người làm sứ đồ cho những kẻ chịu cắt bì, cũng cảm động trong tôi để sai tôi làm sứ đồ cho dân ngoại,
9im tung baktiah kaom Jakob, Kipha hoi Johan cae mah, kai khaeah tahmenhaih paek boeh, tito panoek o naah, nihcae loe tangzat hin aat kaminawk khaeah caeh o moe, Sithaw panoek ai kaminawk khaeah caeh hanah, kai hoi Barnaba to bantang ban ang sinh o.
9và nhận biết ân điển đã ban cho tôi, thì Gia-cơ, Sê-pha, Giăng là những người được tôn như cột trụ, trao tay hữu giao kết với chúng tôi, tức là Ba-na-ba và tôi, hầu cho chúng tôi đi đến cùng dân ngoại, còn các người ấy thì đến cùng những kẻ chịu phép cắt bì.
10Nihcae mah loe kamtang kaminawk ka pahnet o han ai khue ni koehhaih a tawnh o; kai mah doeh to tiah sak han ih ka koeh toeng.
10Các người ấy chỉ dặn dò tôi phải nhớ đến kẻ nghèo nàn, là điều tôi cũng đã ân cần làm lắm.
11Piter Antiok vangpui ah angzoh naah, kasae thuih koi kaom ah khosak pongah, mikhmai kangtong ah lok ka aek.
11Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm.
12Jakob mah patoeh ih thoemto kaminawk angzo o ai karoek to, anih loe Gentelnawk hoi nawnto buhcaak: toe nihcae phak o naah loe, tangzat hin aat kaminawk to zit pongah, Gentel kaminawk hoi angkom ai ah kamhoe ah a oh ving.
12Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì.
13To naah kalah Judah kaminawk doeh anih baktiah angsak o toeng; nihcae to tiah angsak o pongah Barnaba doeh nihcae baktiah oh ving.
13Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ.
14Nihcae loe tamthanglok hoih baktiah katoengah toksah o ai, tito ka panoek naah, kai mah nihcae boih hmaa ah, Nang loe, Judah kami maeto ah na oh, toe Judah kami baktiah kho na sah ai, Gentelnawk baktiah ni kho na sak; to tiah na oh to mah tih hanah Gentelnawk to Judahnawk baktiah na ohsak nganga loe? tiah Piter khaeah ka thuih pae.
14Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa?
15Aicae loe tapen tangsuek nathuem hoiah Judah kami ah a oh o, kazae Gentelnawk baktiah a om o ai.
15Về phần chúng tôi, thì sanh ra là người Giu-đa, không phải là kẻ có tội từ trong dân ngoại.
16Kaalok pazuihaih rang hoiah kami mah toenghaih hnu ai, toe Jesu Kri tanghaih rang hoiah ni hnuk, tiah a panoek o; aicae mah kaalok pazuihaih hoiah na ai, Kri tanghaih rang hoiah toenghaih a hnuk o thai hanah, Kri Jesu to ni a tang o: kaalok pazuihaih rang hoiah mi kawbaktih doeh toenghaih hnu thai ai.
16Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ, nên chính chúng tôi đã tin Đức Chúa Jêsus Christ, để được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ, chớ chẳng bởi các việc luật pháp; vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp.
17Kri rang hoiah toenghaih a pakrong o naah loe, aicae Judah kaminawk doeh kami zae ah ni a oh o toeng, to tiah om nahaeloe Kri loe zaehaih toksahkung ah maw oh? To tiah om ai.
17Nhưng nếu đang khi chúng tôi tìm cách được xưng công bình trong Đấng Christ, mà chính chúng tôi bị nhận là kẻ có tội, vậy thì Đấng Christ chẳng là làm tôi của tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy!
18Ka phraek tangcae hmuen to ka sak let nahaeloe, kaimah hoi kaimah to zaehaih sah kami ah ni ka ohsak, tito amtueng.
18Thật thế, nếu tôi lập lại điều tôi đã phá hủy, thì tôi sẽ tỏ ra chính tôi là người phạm phép.
19Sithaw ah ka hing thai hanah, kaalok ah ka duek.
19Vả, bởi luật pháp, tôi đã chết cho luật pháp, để sống cho Đức Chúa Trời.
20Kai loe Kri hoi nawnto thinglam pongah takhing boeh: to langlacadoeh ka hing; toe kai na ai, Kri kai thungah hing: vaihi taksa ah ka hinghaih loe, kai palung, kai han a hinghaih paek, Sithaw Capa tanghaih hoiah ni hing boeh.
20Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.
21Sithaw tahmenhaih to ka takhoe ving ai: kaalok pazuihaih rang hoiah toenghaih hnuk thai nahaeloe, Kri loe azom pui ah ni duek.
21Tôi không muốn làm cho ân điển Đức Chúa Trời ra vô ích; vì nếu bởi luật pháp mà được sự công bình, thì Đấng Christ chịu chết là vô ích.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.