Esther 8
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ahasuerus siangpahrang mah Judahnawk ih misa Haman ih long to siangpahrang zu Esther hanah paek. Esther mah Mordekai hoi anghnaihaih kawng to siangpahrang khaeah thuih pae boeh pongah, Mordekai loe siangpahrang hmaa ah caeh.
1Ngày đó, vua A-suê-ru ban cho hoàng hậu Ê-xơ-tê cái nhà của Ha-man, kẻ ức hiếp dân Giu-đa. Còn Mạc-đô-chê đi vào trước mặt vua; vì bà Ê-xơ-tê đã bày tỏ người là thân thuộc mình.
2Siangpahrang mah Haman khae ih angmah ih bantuek to khringh moe, Mordekai hanah paek. Esther mah doeh Haman ih im to Mordekai hanah paek.
2Vua cổi chiếc nhẫn mà người đã lấy nơi Ha-man và ban cho Mạc-đô-chê. Bà Ê-xơ-tê đặt Mạc-đô-chê trên nhà Ha-man.
3Esther loe siangpahrang khokkung ah akuep moe, Agag acaeng Haman mah sak ih zaehaih, Judahnawk tamit boih hanah pacaenghaih to boengsak hanah tahmenhaih hnik let.
3Bà Ê-xơ-tê lại còn nói trước mặt vua, và phục xuống dưới chân người mà khóc lóc, cầu xin vua diệt mưu ác mà Ha-man, người A-gát, đã toan ý hại dân Giu-đa.
4Siangpahrang mah angmah ih sui cunghet to kalah bangah paqoi ving. To pongah Esther loe angthawk tahang moe, a hmaa ah angdoet,
4Vua đưa cây phủ việt vàng ra cho bà Ê-xơ-tê. Đoạn, bà chổi dậy và đứng trước mặt vua,
5siangpahrang koehhaih baktiah ka oh moe, na mikcuk naakrak ah ka oh nahaeloe, na hmaa ah katoengah ka oh moe, na mikhnukah koeh koiah ka oh nahaeloe, Agag acaeng, Hammedatha capa Haman mah siangpahrang prae thung boih ah kaom Judahnawk tamit boih hanah tarik ih ca to ka phraek boeh, tiah taphong hanah ka koehhaih oh;
5mà rằng: Nếu vừa ý vua, nếu tôi được ơn trước mặt vua, nếu vua lấy việc làm tiện ích, và tôi được đẹp mắt vua, thì xin vua hãy hạ chiếu đặng bãi các thơ mưu mẹo của Ha-man, con trai Ham-mê-đa-tha, người A-gát, viết đặng truyền giết những dân Giu-đa ở trong các tỉnh của vua.
6kai ih kaminawk nuiah kapha han koi amrohaih to kawbangmaw ka pauep thai tih? To tih ai boeh loe kaimah ih canawk amrohaih to kawbangmaw ka khen thai tih? tiah a naa.
6Vì nỡ nào tôi thấy được tai nạn xảy đến cho dân tộc tôi, và lòng nào nỡ xem được sự hủy diệt dòng dõi tôi?
7Ahasuerus siangpahrang mah siangpahrang zu Esther hoi Judah kami Mordekai khaeah, Khenah, Haman mah Judahnawk nuiah ban phok pongah, anih ih im to Esther hanah ka paek moe, angmah to doeh tung pongah bangh o boeh.
7Vua A-suê-ru nói với hoàng hậu Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê, người Giu-đa, rằng: Nầy ta đã ban cho bà Ê-xơ-tê nhà của Ha-man, còn hắn, người ta đã xử treo mộc hình, bởi vì hắn đã tra tay ra làm hại người Giu-đa.
8Siangpahrang ih ahmin hoiah tarik moe, siangpahrang ih bantuek hoiah catui daeng ih ca loe, mi kawbaktih mah doeh phraek han om ai pongah, koeh baktiah, siangpahrang ih ahmin hoiah Judahnawk hanah ca tarik hoi ah loe, siangpahrang ih bantuek hoiah catui to daeng ah, tiah a naa.
8Vậy, hai ngươi cũng hãy nhân danh vua mà viết về dân Giu-đa điều gì vừa ý hai ngươi, rồi lấy chiếc nhẫn của vua mà ấn dấu. Vì một tờ chiếu chỉ nào viết nhân danh vua và ấn dấu với chiếc nhẫn của vua không thể bãi được.
9To naah Sivan, tiah kawk ih khrah thumto haih, ni pumphae thumto naah, siangpahrang im ih ca tarik kaminawk to kawk o moe, Mordekai mah thuih ih lok baktih toengah, India hoi Ethiopia karoek to, prae cumvai, pumphae sarihto thungah kaom, Judahnawk, prae ukkungnawk, prae ahap ukkung angraengnawk hoi vangpui ukkungnawk khaeah ca tarik o; to lokpaekhaih ca loe prae boih ah angmacae mah patoh ih ca, angmacae ih lok hoiah tarik moe, a pat o; Judahnawk khaeah doeh angmacae ih ca hoi lok baktih toengah tarik o.
9Bấy giờ, nhằm tháng ba, là tháng Si-van, ngày hai mươi ba; những thầy thơ ký được gọi vào, họ y theo mọi điều Mạc-đô-chê dạy biểu mà viết cho dân Giu-đa, các quan trấn thủ, các quan cai quản và những đầu trưởng của các tỉnh, từ Aán-độ cho đến Ê-thi-ô-bi, tức một trăm hai mươi bảy tỉnh, viết cho tỉnh nào dùng chữ nấy, cho dân tộc nào theo thổ âm nấy, và cho dân Giu-đa, thì theo chữ và tiếng của họ.
10Mordekai mah siangpahrang ih ahmin hoiah ca to tarik moe, siangpahrang ih bantuek hoiah catui to a daengh; to canawk loe ca phawkungnawk mah siangpahrang ih hrang, mule hrang, kaengkuu hrang hoiah karangah pat o.
10Mạc-đô-chê viết nhân danh vua A-suê-ru và ấn dấu bằng chiếc nhẫn vua; rồi sai lính trạm đem thơ đi cỡi ngựa hăng và ngựa nòi, bởi ngựa để giống sanh ra.
11Siangpahrang lokpaekhaih mah, prae kruekah kaom Judahnawk nawnto amkhueng thaihaih, angmacae hing angvaeng thaihaih, nihcae tuh kaminawk hoi praenawk to, nawkta hoi nongpata pathlaeng ai ah paro thaihaih, hum thaihaih hoi tamit thaihaih to paek khue ai ah, a misanawk ih hmuennawk boih lomh pae thaihaih to paek,
11Chiếu chỉ ấy tỏ rằng vua ban phép cho dân Giu-đa ở trong các tỉnh các thành của nước A-suê-ru hiệp lại
12khrah hatlai hnetto haih, Adar khrah, ni hatlai thumto naah, Judahnawk mah siangpahrang Ahasuerus ukhaih prae thung boih ah to tiah sak thaihaih to tawnh o.
12nội trong một ngày, là ngày mười ba tháng mười hai, tức là tháng A-đa, đặng binh vực sanh mạng mình, tuyệt diệt, đánh giết, và làm cho hư mất quyền năng của dân cừu địch toan hãm hiếp mình, vợ và con cái mình, cùng cho phép đoạt lấy tài sản của chúng nó.
13To niah Judahnawk mah angmacae misa ih nuiah lulak han amsak o coek hanah, to lokpaekhaih ca pakong ih kawpi to prae kruekah pat o moe, prae congca kaminawk to panoek o sak.
13Để cho chiếu chỉ được công bố trong mỗi tỉnh, một tờ sao lục chiếu đem rao cho các dân tộc biết, hầu cho người Giu-đa sẵn sàng về ngày đó, mà trả thù các cừu địch mình.
14To lokpaekhaih ca loe siangpahrang ohhaih Susan vangpui hoiah taphong o, phrae thai ai siangpahrang lokpaekhaih ah oh baktih toengah, ca phawkungnawk loe mule hrang hoi kaengkuu hrang to angthueng o moe, karangah ca to caeh o haih.
14Vậy những lính trạm cỡi ngựa hăng và ngựa nòi, vâng mạng vua thúc giục lật đật đi. Đoạn chiếu chỉ ấy được truyền ra trong kinh đô Su-sơ.
15Mordekai doeh siangpahrang ih kahni kanglung hoi kam-iing to angkhuk moe, lensawk sui lumuek hoi rong kamling hup puungan kahni to angkhuk pacoengah, siangpahrang hmaa hoiah tacawt; to naah Susan vangpui ah anghoehaih hoi nawmhaih to oh.
15Mạc-đô-chê từ trước mặt vua trở ra, mặc đồ triều phục xanh và trắng, đội một cái mão triều thiên lớn bằng vàng, và mặc một cái áo dài bằng bố gai mịn màu tím; thành Su-sơ cất tiếng reo mừng và hớn hở.
16Judah kaminawk han doeh aanghaih, anghoehaih, nawmhaih hoi pakoehhaih niah oh.
16Về phần dân Giu-đa, thì có sự sáng sủa, vui vẻ, khoái lạc và vinh hiển.
17Siangpahrang ih lok phakhaih prae hoi vangpui kruekah kaom Judahnawk loe anghoe o moe, nawm o pacoengah, anghoehaih poih to a sak o. Judahnawk to zit o pongah, paroeai prae kaminawk loe Judah phungah akun o.
17Trong mỗi tỉnh mỗi thành, phàm nơi nào có mạng lịnh và chiếu chỉ của vua thấu đến, thì có sự vui mừng và sự khoái lạc cho dân Giu-đa, bữa yến tiệc và một ngày ăn lễ. Có nhiều kẻ trong các dân tộc của xứ lại nhập bọn với dân Giu-đa; bởi vì chúng nó bắt sợ hãi dân Giu-đa lắm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.