2 Thesalonika 3
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hnukkhuem koekah, nawkamyanawk, Angraeng ih lok nangcae thungah oh baktih toengah, tamthanglok to karangah pung moe, lensawkhaih amtueng thai han hoi,
1Vả lại, hỡi anh em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi, hầu cho đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh, như thể ở trong anh em vậy,
2kami boih mah tanghaih tawn o ai pongah, tidoeh kavang ai kami hoi kasae kaminawk ban thung hoiah ka loih o thai hanah, kaicae han lawk na thui pae oh.
2lại hầu cho chúng tôi được giải thoát khỏi kẻ vô lý và người ác; vì chẳng phải hết thảy đều có đức tin.
3Toe Angraeng loe oepthoh, anih mah tha na cak o sak ueloe, kahoih ai hmuen thung hoiah na loih o sak tih.
3Chúa là thành tín, sẽ làm cho anh em bền vững và giữ cho khỏi Aùc giả.
4Kang thuih o ih hmuennawk na sak o baktih toengah, na sah o poe tih, tiah Angraeng hmin hoi oephaih ka tawnh o.
4Về phần anh em, chúng tôi có lòng tin cậy trong Chúa rằng anh em đang làm và sẽ làm những việc chúng tôi dặn biểu.
5Angraeng mah nangcae ih palungthin to Sithaw amlunghaih hoi Kri palungsawkhaih bangah caeh haih nasoe.
5Nguyền xin Chúa soi dẫn lòng anh em tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời, và sự nhịn nhục của Đấng Christ!
6Nawkamyanawk, kaicae khae hoi nam tuk o ih khosakhaih baktih toengah khosah ai kami, amsoem ai ah khosah kaminawk khae hoi kamhoe ah na oh o thai hanah, Angraeng Jesu Kri ih ahmin hoiah kang pacae o.
6Hỡi anh em, nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, chúng tôi khuyên anh em phải lánh người anh em nào không biết tu đức hạnh mình, và không bước theo các điều dạy dỗ mà anh em đã nhận lãnh nơi chúng tôi.
7Kaicae khosakhaih dan kawbangmaw pazui han, tito na panoek o, kaicae loe nangcae mik hnukah khet kamcuk ai ah kho ka sah o vai ai:
7Chính anh em biết điều mình phải làm để học đòi chúng tôi; vì chúng tôi không có ăn ở sái bậy giữa anh em,
8minawk ih buh doeh azom ah ka caa o vai ai; nangcae khaeah kaom mi kawbaktih doeh hmuenzit ka phawh o sak han ai ah, aqum athun karai tok to ka sak o:
8chưa từng ăn dưng của ai, nhưng đêm ngày làm lụng khó nhọc, để khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết.
9sakthaihaih akaa ka tawn o ai, tiah thuihaih ih na ai ni, nangcae mah kuu na lak o thai hanah, ka sak o ih baktih toengah na sak o pazui han ih ni, nangcae khet koi kaom ah tok ka sak o.
9Chẳng phải chúng tôi không có quyền lợi được ăn dưng, nhưng muốn làm gương cho anh em, để anh em bắt chước.
10Nangcae khae ka oh o naah, hae lok hae kang thuih o boeh, toksak koeh ai kami loe buh caa hmah nasoe.
10Khi chúng tôi ở cùng anh em, cũng đã rao bảo cho anh em rằng: nếu ai không khứng làm việc, thì cũng không nên ăn nữa.
11Nangcae khaeah khet kamcuk ah khosah ai kami, minawk raihaih paek thoemto kaminawk oh o ti, tiah ka thaih o.
11Vả, chúng tôi nghe trong anh em có kẻ ăn ở bậy bạ, chẳng hề làm lụng, trở chăm những sự vô ích thôi.
12To kaminawk loe lok angaekhaih om ai ah tok a sak o moe, angmacae ih buh to caak o hanah, Angraeng Jesu Kri rang hoiah thapaekhaih lok ka thuih pae o.
12Chúng tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ, bảo và khuyên những kẻ đó phải yên lặng mà làm việc, hầu cho ăn bánh của mình làm ra.
13Toe nawkamyanawk, kahoih hmuen sak han hmawt o hmah.
13Hỡi anh em, phần anh em chớ nên chán mệt làm sự lành.
14Hae capat thungah tarik ih lok tapom ai kami loe, to kami to panoek oh loe, anih azat thai hanah, anih hoi angkom o hmah.
14Ví bằng có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thơ nầy, thì hãy ghi lấy, chớ giao thông với họ, hầu cho họ nhân đó biết xấu hổ.
15Toe anih to misa baktiah poek o hmah, amnawkamya baktiah thuitaek oh.
15Tuy vậy, chớ coi người đó như kẻ nghịch thù, nhưng hãy răn bảo người như anh em vậy.
16Angdaehhaih Angraeng angmah roe mah, hmuen boih pongah dungzan monghaih na paek o nasoe. Nangcae boih khaeah Angraeng om nasoe.
16Nguyền xin chính Chúa bình an ban sự bình an cho anh em trong mọi khi, đủ mọi cách! Lại xin Chúa ở cùng anh em hết thảy!
17Hae ban sinhaih ca loe capat boih thungah angmathaih capat maeto ah oh pongah, kai Pawl mah kaimah ih ban hoi roe ni ka tarik.
17Chính tay tôi, là Phao-lô, viết lời chào thăm nầy cho anh em: ấy đó là dấu ký của tôi trong mọi thơ từ của tôi, tôi viết như vậy.
18Aicae Angraeng Jesu Kri tahmenhaih nangcae boih nuiah om nasoe.
18Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ở cùng anh em hết thảy!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.