2 Piter 3
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Palung ih kaminawk, hmuennawk boih kahoihah na poek o moe, palung angthawksak han ih ni, hae capat hnettohaih hae kang tarik o:
1Hỡi kẻ rất yêu dấu, nầy là thơ thứ hai tôi viết cho anh em. trong thơ nầy và thơ kia, tôi tìm cách làm cho nhớ lại để giục lòng lành trong anh em,
2canghnii ah kaciim tahmaanawk mah thuih ih loknawk hoi patoeh ih kaminawk patohhaih rang hoiah pahlongkung hoi Angraeng mah ang thuih o ih loknawk to na poek o let hanah ka koeh:
2hầu cho ghi lấy lời nói trước của các thánh tiên tri, cùng mạng lịnh của Chúa và Cứu Chúa chúng ta, đã cậy các sứ đồ của anh em mà truyền lại.
3hmaloe koekah hae hae panoek oh; hnukkhuem niah loe angmacae taksa koehhaih baktiah tok kasah, minawk padaeng thaih kaminawk to angzo o tih,
3Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình,
4Anih angzo tih boeh, tiah thuih ih lokkamhaih loe naah maw oh ving boeh? Ampanawk loe duek o boeh, toe hmuennawk boih loe sak tangsuek nathuem ih baktiah ni oh o poe vop, tiah thui o tih.
4đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.
5Nihcae mah, Canghnii ah tui thung hoiah tacawt long hoi van loe Sithaw ih lok hoiah ni sak:
5Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước,
6to tiah kaom long loe tui mah uem moe, amro boeh, tito pahnet han koeh o tih.
6thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vậy, là bị chìm đắm bởi nước lụt.
7To lok hoiah ni vaihi kaom long hoi vannnawk to katang ai kaminawk amro o moe, lokcaekhaih ni karoek to hanah pathlungh.
7Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác.
8Palung ih kaminawk, hae hae pahnet o hmah, Sithaw han loe nito hae saning sangto baktiah oh moe, saning sangto doeh nito baktiah oh.
8Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.
9Thoemto kaminawk mah poek o ih baktih toengah, Angraeng loe a lokkamhaih nuiah angtawt hnung ai; anih mah loe mi kawbaktih doeh anghmatsak han koeh ai, kami boih dawnpakhuemsak han koeh, to pongah anih loe aicae nuiah palungsawk.
9Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.
10Toe Angraeng ih Ni loe khoving ah kangzo kamqu baktiah om tih; vannawk loe tuen o parai ueloe, anghmaa tih, bet loiah hmuennawk boih amkaw tih, long hoi a thungah kaom hmuennawk boih hmai mah kangh tih.
10Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chết bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả.
11Hmuennawk boih amro han oh pongah, nangcae loe kawbaktih kami ah maw na oh o han? Kaciim tuinuen hoi Sithaw koehhaih baktiah oh han angaih,
11Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào,
12nangcae loe angzo hankoi Sithaw ih Ani to na zing o, to niah loe hmai mah van to kangh ueloe, anghmaa tih, kabae nung parai pongah a thungah kaom hmuenmaenawk to amkaw o boih tih.
12trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi!
13Toe aicae loe a lokkamhaih baktih toengah, katoeng kaminawk ohhaih van kangtha hoi long kangtha to ni a zing o.
13Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở.
14Palung ih kaminawk, to hmuennawk to na zing o pongah, kasae thuih han kaom ai, coek koi om ai ah monghaih hoi Anih to hnuk hanah, tha pathok oh.
14Vậy nên, hỡi kẻ rất yêu dấu, vì anh em trông đợi những sự đó, thì phải làm hết sức mình, hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được.
15Sithaw mah anih han paek ih palunghahaih hoiah a palung o ih nawkamya Pawl mah doeh nangcae khaeah ca ang tarik o boeh, pahlonghaih hnuksak han koeh pongah ni, aicae Angraeng Sithaw loe kaminawk nuiah palungsawk, tito panoek oh;
15Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em, cũng như Phao lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã đem sự khôn ngoan được ban cho mình mà viết thơ cho anh em vậy.
16Anih ih capatnawk boih mah, hae hmuennawk kawng hae thuih, toe Tarik ih thoemto ca loe thaih kop han rai parai; ca amtuk ai kami hoi poekcak ai kaminawk mah loe thuih koehhaih lok ahlong to kalah bangah paqoi o ving, kalah Cabunawk doeh angmacae amro hanah to tiah a sak o.
16Aáy là điều người đã viết trong mọi bức thơ, nói về những sự đó, ở trong có mấy khúc khó hiểu, mà những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Kinh Thánh khác, chuốc lấy sự hư mất riêng về mình.
17To pongah palung ih kaminawk, hae hmuennawk loe hae tiah ni om tih, tiah na panoek o coek boeh; to pongah acoehaih hoiah khosah oh, to tih ai nahaeloe lam caehpazae kahoih ai kaminawk pacuekhaih to na pazui o moeng ueloe, kacak nangmacae tanghaih thung hoiah nam timh o moeng tih.
17Hỡi kẻ rất yêu dấu, vì anh em đã được biết trước, vậy hãy giữ cho cẩn thận, e anh em cũng bị sự mê hoặc của những người ác ấy dẫn dụ, mất sự vững vàng của mình chăng.
18Toe aicae Angraeng, pahlongkung Jesu Kri panoekhaih hoi tahmenhaih bangah qoeng o tahang ah. Lensawkhaih loe anih khaeah vaihi hoi dungzan khoek to om poe nasoe. Amen.
18Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ. Nguyền xin vinh hiển về nơi Ngài, từ rày đến đời đời! A-men.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.