1 Johan
Chapter 5

1 Johan

Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jesu loe Kri ni, tiah tang kami loe, Sithaw mah tapen ih kami ah oh: Anih palung kami loe Anih mah sak ih a capa doeh palung.
1Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, thì sanh bởi Đức Chúa Trời; và ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài.
2Aicae mah Sithaw palung naah, a paek ih lok to tahngaih o: hae tiah sakhaih rang hoiah ni Sithaw ih caanawk a palung o, tito amtueng.
2Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài.
3Anih mah paek ih lok tahgaihaih loe, Sithaw amlunghaih ah oh: a paek ih loknawk loe hmuen kazit ah om ai.
3Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề,
4Sithaw mah tapen ih kami mah loe long to pazawk: aicae tanghaih mah long to pazawk boeh.
4vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.
5Jesu loe Sithaw Capa ni, tiah tang kami khue mah na ai maw long to pazawk?
5Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao?
6Jesu loe tui hoi athii hoiah ni angzoh; tui hoi khue ai, tui hoi athii hoiah ni angzoh. Muithla loe loktang ah oh pongah, Muithla loe hnukung ah oh.
6Aáy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết;
7Van ah hnukkung thumto oh; to hnukungnawk loe Ampa, Lok hoi Kacai Muithla cae hae ni: hae thumto loe maeto ah oh o.
7ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật.
8Long ah hnukung thumto oh; to hnukungnawk loe muithla, tui hoi athii cae hae ni: hae thumtonawk loe maeto ah oh o.
8Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết; ba ấy hiệp một.
9Hnukung ah kaom kami mah taphong ih lok mataeng doeh a tang o nahaeloe, Sithaw mah a Capa kawng to taphong boeh pongah, kalen kue hnukung ah kaom Sithaw mah taphong ih lok to a tang o aep han oh.
9Ví bằng chúng ta nhận chứng của loài người, thì chứng của Đức Chúa Trời trọng hơn; vả, chứng của Đức Chúa Trời ấy là chứng mà Ngài làm về Con Ngài.
10Sithaw Capa tang kami loe hae tiah taphong ih lok loe tangtang ni, tiah panoekhaih palung to a tawnh: Sithaw tang ai kami loe, Sithaw mah a Capa to paek, tiah thuih ih lok to tang ai pongah, Anih to lok amlai kami ah a ohsak.
10Ai tin đến Con Đức Chúa Trời, thì có chứng ấy trong mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối, vì chẳng tin đến chứng Đức Chúa Trời đã làm về Con Ngài.
11Sithaw mah aicae hanah dungzan hinghaih to paek boeh, to hinghaih loe a Capa ah oh, tiah taphong ih hae lok loe Sithaw ih lok ah oh.
11Chừng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài.
12Capa tawn kami loe hinghaih to tawnh; Sithaw Capa tawn ai kami loe hinghaih to tawn ai.
12Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.
13Dungzan hinghaih ka tawnh, tiah na panoek o moe, Sithaw Capa ih ahmin na tang o thai hanah, Sithaw Capa ih ahmin tang nangcae khaeah hae hmuennawk kawng hae kang tarik o;
13Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời.
14a koehhaih baktiah kawbaktih hmuen doeh a hnik o nahaeloe, anih mah na tahngai pae tih, hae loe aicae mah Sithaw ah a tawnh o ih oephaih ah oh.
14Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta.
15Lawkthuihaih tahngaih pae, tiah a panoek o nahaeloe, anih khaeah a hnik o ih hmuennawk boih loe hnuk boeh, tiah poek oh.
15Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.
16Mi kawbaktih doeh angmah ih amnawk mah duek han khoek to kaom ai sak ih zaehaih to hnu nahaeloe, duek han khoek to zaehaih kasah ai kaminawk khaeah Sithaw mah hinghaih paek thai hanah, anih mah lawkthuih pae han oh. Kadueh sakthaih zaehaih to oh: to baktih zaehaih thung hoi loih thai hanah lawkthui pae oh, tiah ka thui ai.
16Vì có kẻ thấy anh em mình phạm tội, mà tội không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho, tức là ban cho những kẻ phạm tội mà chưa đến nỗi chết. Cũng có tội đến nỗi chết; ấy chẳng phải vì tội đó mà ta nói nên cầu xin.
17Katoeng ai hmuennawk boih loe zaehaih ah oh: duek han khoek to kaom ai zaehaih doeh oh.
17Mọi sự không công bình đều là tội; mà cũng có tội không đến nỗi chết.
18Mi kawbaktih doeh Sithaw mah tapen ih kami loe zaehaih sah ai; Sithaw mah tapen ih kami loe angmah hoi angmah kahoih ah ang khetzawn pongah, kahoih ai kaminawk mah raihaih paek o thai ai.
18Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được.
19Aicae loe Sithaw caa ah a oh o, toe long pum loe kahoih ai taqawk ih ban thungah ni oh, tito a panoek o.
19Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ.
20Sithaw Capa loe loktang Anih to a panoek o thai hanah angzoh. Aicae loe a capa Jesu Kri ah a oh o pongah, loktang Anih ah om kami ah ni a oh o. Anih loe dungzan hinghaih ah oh moe, loktang Sithaw ah oh.
20Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật, và chúng ta ở trong Đấng chân thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài. Aáy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời.
21Palung ih nawktanawk, krang bokhaih to ayae oh. Amen.
21Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.