1 Johan 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Palung ih ka caanawk, na zae o han ai ah hae ca hae kang tarik o. Toe zaehaih sah kami hanah loe, aicae zuengah lokthuikung, Ampa hoi nawnto kaom, katoeng Jesu Kri to a tawnh o:
1Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình.
2Anih loe aicae zaehaih loisakkung ah oh: aicae han khue ai, long pum ah kaom kaminawk boih ih zaehaih loisakkung ah doeh oh.
2Aáy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa.
3Anih ih kaalok to a tahngai o nahaeloe, anih to a panoek o boeh tiah amtueng.
3Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.
4Anih to ka panoek tiah thuih, toe anih ih kaalok to pazui ai nahaeloe, lok amlai kami ah ni oh, to kami thungah loktang to om ai.
4Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.
5Toe mi kawbaktih doeh Anih ih lok tahngai kami loe, anih thungah Sithaw amlunghaih to akoep tih: a lok tahngaihaih rang hoiah ni anih khaeah a oh o boeh, tito a panoek o.
5Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
6Anih ah ka hing boeh, tiah thui kami loe, anih caehhaih baktiah caeh toeng han angaih.
6Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.
7Nawkamyanawk, nangcae khaeah kaalok kangtha ka tarik ai, tangsuek natuem hoi na tawnh o ih kaalok kangquem ni ka tarik. Kaalok kangquem loe nangcae mah tangsuek nathuem hoi na thaih o ih lok to boeh ni.
7Hỡi kẻ rất yêu dấu, ấy chẳng phải là điều răn mới mà ta viết cho anh em, bèn là điều răn cũ anh em đã nhận lấy từ lúc ban đầu; điều răn cũ nầy tức là lời anh em đã nghe.
8Vinghaih loe laemh ving boeh moe, vaihi loe tangtang aanghaih mah toeh boeh pongah, kaalok kangtha nangcae khaeah ka tarik let, to kangtha kaalok loe Anih hoi nangcae khaeah loktang ah oh.
8Song le, ta cũng viết cho anh em điều răn mới, là điều chân thật trong Chúa và trong anh em, vì sự tối tăm đã tan rồi, và sự sáng thật đã soi sáng.
9Aanghaih thungah ni ka oh, tiah a thuih, toe angmah ih amnawk to hnuma kami loe vaihi khoek to vinghaih thungah ni a oh vop.
9Kẻ nào nói mình trong sự sáng, mà ghét anh em mình thì còn ở trong sự tối tăm.
10Angmah ih amnawk palung kami loe aanghaih thungah oh, to pongah anih loe amthaek han ih loklam om ai.
10Ai yêu mến anh em mình, thì ở trong sự sáng, nơi người đó chẳng có điều chi gây cho vấp phạm.
11Toe angmah ih amnawk hnuma kami loe, vinghaih thungah oh, vinghaih thungah amkaeh, vinghaih mah mikmaengsak pongah, naa ah maw ka caeh, tito panoek ai.
11Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người.
12Nawktanawk, anih ih ahmin hoiah na zae o haihnawk to tahmen boeh pongah, nangcae khaeah ca ka tarik.
12Hỡi các con cái bé mọn ta, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho.
13Ampanawk, tangsuek nathuem hoi kaom anih to na panoek o boeh pongah, nangcae khaeah ca ka tarik. Thendoengnawk, kahoih ai kaminawk to na pazawk o boeh pongah, nangcae khaeah ca ka tarik. Nawktanawk, Ampa to na panoek o boeh pongah, nangcae khaeah ca ka tarik.
13Hỡi các phụ lão, tôi viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta viết cho các ngươi, vì các ngươi đã thắng được ma quỉ.
14Ampanawk, tangsuek nathuem hoi anih to na panoek o boeh pongah, nangcae khaeah ca ka tarik. Thendoengnawk, tha na cak o moe, nangcae thungah Sithaw lok oh pongah, kahoih ai kaminawk to na pazawk o, to pongah nangcae khaeah ca ka tarik.
14Hỡi con trẻ, ta đã viết cho các con, vì các con đã biết Đức Chúa Cha. Hỡi phụ lão, tôi đã viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta đã viết cho các ngươi, vì các ngươi là mạnh mẽ, lời Đức Chúa Trời ở trong các ngươi, và các ngươi đã thắng được ma quỉ.
15Long hoi a thungah kaom hmuennawk to palung o hmah. Long palung kami loe, anih thungah Ampa palunghaih to om ai.
15Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.
16Long hmuen ah kaom, taksa koehhaih, mik hoi khithaih, a tawnh ih hmuen hoi amoekhaihnawk loe Ampa khae hoiah angzo ai, long hoiah ni tacawt.
16Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.
17Long hoi long koehhaih loe anghmat boeh: toe Sithaw koehhaih sah kami loe dungzan khoek to cak.
17Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
18Nawktanawk, vaihi loe boenghaih atue ah ni oh boeh: Kri lok aek kaminawk angzo o tih, tiah na thaih o baktih toengah, pop parai Kri ih lokaek kaminawk vaihi angzoh o boeh; to pongah vaihi loe boenghaih atue boeh ni, tito a panoek o.
18Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi, các con đã nghe nói rằng Kẻ địch lại Đấng Christ phải đến. Vừa lúc bây giờ, có nhiều kẻ địch lại Đấng Christ; bởi đó, chúng ta biết rằng ấy là giờ cuối cùng.
19Nihcae loe aicae khae hoi tacawt o ving boeh, nihcae loe aicae ih kami na ai ni; aicae kami ah om o nahaeloe, aicae hoi nawnto om o poe tih: toe tacawt o ving boeh pongah, nihcae loe aicae ih kami na ai boeh ni, tiah amtueng boeh.
19Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy.
20Toe nangcae loe Kaciim Kami mah situi ang bawh o pongah, hmuennawk boih na panoek o.
20Về phần các con, đã chịu xức dầu từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi.
21Loktang na panoek o ai pongah hae ca hae ka tarik ih na ai ni, loktang to na panoek o, amsawnlok thuihaih loe loktang thung hoiah angzo ai, tiah na panoek o pongah ni ca kang tarik o.
21Ta viết cho các con, chẳng phải vì các con không biết lẽ thật, nhưng vì các con biết lẽ thật, và hiểu rằng chẳng có sự dối trá nào bởi lẽ thật mà ra.
22Lok amlai kami loe mi aa? Jesu loe Kri na ai ni, tiah angaek kami to ni. Ampa hoi Capa talawk ai kami loe Kri ih misa ah oh.
22Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sao? Aáy đó là Kẻ địch lại Đấng Christ, tức là kẻ chối Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con!
23Capa lokaek kami loe, Ampa to tawn ai: toe Capa talawk kami loe, Ampa doeh a tawnh.
23Ai chối Con, thì cũng không có Cha: ai xưng Con, thì cũng có Cha nữa.
24Tangsuek nathuem hoiah na thaih o ih lok to nangcae thungah om poe nasoe. Tangsuek nathuem hoi na thaih o ih lok to nangcae thungah om poe nahaeloe, nangcae doeh Capa hoi Ampa ah na om o poe tih.
24Còn như các con, điều mình đã nghe từ lúc ban đầu phải ở trong các con. Nếu điều các con đã nghe từ lúc ban đầu ở trong mình, thì các con cũng sẽ ở trong Con và trong Cha.
25Anih mah aicae khaeah paek ih lokkamhaih loe, dungzan hinghaih lok hae ni.
25Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời.
26Acoehaih hoi kho na sak o thai hanah nangcae aling han pacaeng kaminawk kawng to hae tiah kang tarik o.
26Ta đã viết cho các con những điều nầy, chỉ về những kẻ lừa dối các con.
27Toe nangcae situi bawh Anih to nangcae thungah oh pongah, nangcae loe minawk mah patuk han angaih ai: to tiah nangcae situi bawh kami mah hmuennawk boih ang patuk o, Anih loe loktang ah oh moe, lok amlai ai, Anih mah to tiah ang patuk o baktih toengah, Anih khaeah na oh o poe han oh.
27Về phần các con, sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song vì sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận.
28Nawktanawk, vaihi anih khaeah om o poe ah; to tiah ni anih amtueng naah, aicae mah angoephaih a tawn o ueloe, anih angzoh naah a hmaa ah azathaih tawn ai ah a om o tih.
28Vậy bây giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài, hầu cho, nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài trong k” Ngài ngự đến.
29Anih loe katoeng kami ah oh, tiah na panoek o nahaeloe, toenghaih sah kaminawk boih loe anih mah tapen ih caa ah oh o, tiah panoek kami ah na oh o.
29Ví bằng các con biết Ngài là công bình, thì hãy biết rằng người nào làm theo sự công bình, ấy là kẻ bởi Ngài mà sanh ra.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.